Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.
宮沢賢治 (Miyazawa Kenji) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng
ゴーシュは町の活動写真館でセロを弾く係りでした。けれどもあんまり上手でないという評判でした。上手でないどころではなく実は仲間の楽手のなかではいちばん下手でしたから、いつでも楽長にいじめられるのでした。
Gōshu là người phụ trách chơi cello ở rạp chiếu bóng trong thị trấn. Nhưng anh mang tiếng là chơi không hay lắm. Chẳng phải chỉ “không hay lắm” — thật ra anh là người kém nhất trong đám nhạc công, nên lúc nào cũng bị nhạc trưởng mắng nhiếc.
ひるすぎみんなは楽屋に円くならんで今度の町の音楽会へ出す第六交響曲の練習をしていました。にわかにぱたっと楽長が両手を鳴らしました。「セロがおくれた。トォテテ テテテイ、ここからやり直し。はいっ。」ゴーシュは顔をまっ赤にして額に汗を出しながらやっといま云われたところを通りました。ほっと安心しながら、つづけて弾いていますと楽長がまた手をぱっと拍ちました。「セロっ。糸が合わない。困るなあ。ぼくはきみにドレミファを教えてまでいるひまはないんだがなあ。」
Quá trưa, cả đoàn quây thành vòng tròn trong phòng tập, luyện bản Giao hưởng số Sáu sắp trình diễn ở buổi hòa nhạc của thị trấn. Đột nhiên nhạc trưởng vỗ hai tay đánh “bốp”. “Cello chậm nhịp! Tồ-tê-tê tê-tê-têi — chơi lại từ đây. Nào!” Gōshu đỏ bừng mặt, trán vã mồ hôi, chật vật lắm mới qua nổi đoạn vừa bị nhắc. Vừa thở phào chơi tiếp thì nhạc trưởng lại vỗ tay đánh “bốp”. “Cello! Lạc dây rồi! Khổ quá đi mất. Tôi làm gì có thì giờ dạy cậu cả đồ-rê-mi-fa nữa hả!”
「だめだ。まるでなっていない。このへんは曲の心臓なんだ。それがこんながさがさしたことで。諸君。演奏までもうあと十日しかないんだよ。おいゴーシュ君。君には困るんだがなあ。表情ということがまるでできてない。怒るも喜ぶも感情というものがさっぱり出ないんだ。それにどうしてもぴたっと外の楽器と合わないもなあ。いつでもきみだけとけた靴のひもを引きずってみんなのあとをついてあるくようなんだ、困るよ。」
“Hỏng! Chẳng ra thể thống gì hết. Đoạn này là trái tim của bản nhạc đấy, mà lại chơi rời rạc sồn sột thế kia. Các cậu ơi, chỉ còn mười ngày nữa là biểu diễn rồi. Này cậu Gōshu, tôi khổ vì cậu quá. Cậu hoàn toàn không có cái gọi là biểu cảm. Giận hay vui — chẳng thấy chút cảm xúc nào toát ra cả. Rồi thì cậu chẳng bao giờ khớp nổi với các nhạc cụ khác nữa chứ. Lúc nào cũng chỉ mình cậu lẽo đẽo theo sau mọi người y như người kéo lê dây giày tuột. Khổ lắm cơ!”
ゴーシュはその粗末な箱みたいなセロをかかえて壁の方へ向いて口をまげてぼろぼろ泪をこぼしましたが、気をとり直してじぶんだけたったひとりいまやったところをはじめからしずかにもいちど弾きはじめました。その晩遅くゴーシュは何か巨きな黒いものをしょってじぶんの家へ帰ってきました。家といってもそれは町はずれの川ばたにあるこわれた水車小屋で、ゴーシュはそこにたった一人ですんでいました。夜中もとうにすぎてしまいはもうじぶんが弾いているのかもわからないようになって顔もまっ赤になり眼もまるで血走ってとても物凄い顔つきになりいまにも倒れるかと思うように見えました。そのとき誰かうしろの扉をとんとんと叩くものがありました。
Gōshu ôm cây cello thô kệch như cái thùng gỗ, quay mặt vào tường, méo miệng, nước mắt lã chã. Nhưng rồi anh trấn tĩnh lại, một mình lặng lẽ chơi lại từ đầu đoạn vừa tập. Đêm ấy, khuya lắc, Gōshu vác một vật đen to đùng về nhà. Nói là nhà, kỳ thực đó là một túp lều cối xay nước hỏng bên bờ sông rìa thị trấn, Gōshu sống ở đó một thân một mình. Quá nửa đêm đã lâu, cuối cùng anh chơi đến mức chẳng còn biết mình đang chơi hay không nữa: mặt đỏ gay, mắt vằn đỏ tia máu, bộ dạng dữ tợn tưởng chừng sắp gục đến nơi. Đúng lúc ấy, có ai gõ cạch cạch cánh cửa sau lưng.
すうと扉を押してはいって来たのは大きな三毛猫でした。ゴーシュの畑からとった半分熟したトマトをさも重そうに持って来て云いました。「これおみやです。たべてください。」ゴーシュはひるからのむしゃくしゃを一ぺんにどなりつけました。「誰がきさまにトマトなど持ってこいと云った。そのトマトだっておれの畑のやつだ。行ってしまえ。ねこめ。」すると猫は口のあたりでにやにやわらって云いました。「先生、そうお怒りになっちゃ、おからだにさわります。それよりシューマンのトロメライをひいてごらんなさい。きいてあげますから。」「生意気なことを云うな。ねこのくせに。」
Kẽo kẹt đẩy cửa bước vào là một con mèo tam thể to tướng. Nó ì ạch tha một quả cà chua chín dở hái trộm từ vườn của Gōshu, đặt xuống: “Quà biếu thầy đây ạ. Mời thầy xơi.” Bao nhiêu bực dọc từ trưa, Gōshu trút cả vào một trận quát: “Ai khiến mày tha cà chua đến hả! Mà quả cà chua này cũng là của vườn tao! Cút ngay, đồ mèo!” Con mèo chỉ nhăn nhở cười quanh mép: “Thưa thầy, thầy giận thế hại người lắm ạ. Chi bằng thầy chơi thử bản Träumerei của Schumann xem. Em xin nghe hầu thầy.” — “Đừng có hỗn. Cái đồ mèo!”
ゴーシュは何と思ったか扉にかぎをかって窓もみんなしめてしまい、まずはんけちを引きさいてじぶんの耳の穴へぎっしりつめました。それからまるで嵐のような勢で「印度の虎狩」という譜を弾きはじめました。すると猫はいきなりパチパチパチッと眼をしたかと思うとぱっと扉の方へ飛びのきました。そしていきなりどんと扉へからだをぶっつけましたが扉はあきませんでした。眼や額からぱちぱち火花を出しました。「先生もうたくさんです。たくさんですよ。これからもう先生のタクトなんかとりませんから。」「だまれ。これから虎をつかまえる所だ。」しまいは猫はまるで風車のようにぐるぐるぐるぐるゴーシュをまわりました。「さあこれで許してやるぞ」と云いながらようようやめました。
Chẳng hiểu Gōshu nghĩ gì mà anh khóa trái cửa, đóng kín hết cửa sổ, rồi xé đôi chiếc khăn tay nhét chặt vào hai lỗ tai mình. Đoạn anh lấy hết sức bình sinh, chơi bản “Săn hổ ở Ấn Độ” với khí thế như bão táp. Con mèo bỗng chớp mắt lia lịa “tanh tách tách”, rồi phóc một cái nhảy bật về phía cửa. Nó lao đánh rầm cả thân vào cánh cửa, nhưng cửa không mở. Từ mắt, từ trán nó tóe ra những tia lửa lép bép. “Thầy ơi, đủ rồi! Đủ lắm rồi ạ! Từ nay em không dám chê bai thầy nữa đâu!” — “Câm! Sắp đến đoạn tóm con hổ rồi đây này.” Cuối cùng con mèo quay mòng mòng quanh Gōshu như một chiếc chong chóng. “Thôi, tha cho mày đấy” — anh nói và mãi mới chịu ngừng đàn.
ゴーシュは扉をあけて猫が風のように萱のなかを走って行くのを見てちょっとわらいました。それから、やっとせいせいしたというようにぐっすりねむりました。
Gōshu mở cửa, nhìn con mèo chạy vụt như gió vào đám cỏ lau, bật cười một tiếng. Rồi anh đánh một giấc ngon lành, như thể rốt cuộc đã trút được nỗi bực trong lòng.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| セロ | — | đàn cello (cách viết cũ) |
| 楽長 | がくちょう | nhạc trưởng |
| 交響曲 | こうきょうきょく | bản giao hưởng |
| 練習 | れんしゅう | luyện tập |
| 楽譜/譜 | がくふ/ふ | bản nhạc |
| 表情 | ひょうじょう | biểu cảm |
| 生意気 | なまいき | hỗn xược, láo |
| 水車小屋 | すいしゃごや | lều cối xay nước |
次の晩もゴーシュは夜中すぎまでセロを弾いていますと誰か屋根裏をこっこっと叩くものがあります。いきなり天井の穴からぽろんと音がして一疋の灰いろの鳥が降りて来ました。それはかっこうでした。「音楽を教わりたいのです。」「音楽だと。おまえの歌は、かっこう、かっこうというだけじゃあないか。」「ええ、それなんです。けれどもむずかしいですからねえ。わたしらのなかまならかっこうと一万云えば一万みんなちがうんです。私はドレミファを正確にやりたいんです。外国へ行く前にぜひ一度いるんです。」
Đêm hôm sau, Gōshu lại kéo đàn quá nửa đêm thì nghe có ai gõ cồng cộc trên gác mái. “Cạch” một tiếng, từ lỗ hổng trên trần, một con chim màu tro sà xuống — một con chim cu cu (kakkō). “Cháu muốn học nhạc ạ.” — “Nhạc cái gì. Bài hát của mày thì cũng chỉ có ‘cúc cu, cúc cu’ chứ gì nữa!” — “Vâng, chính nó đấy ạ. Nhưng khó lắm cơ. Trong họ nhà cháu, kêu ‘cúc cu’ một vạn lần thì cả một vạn lần đều khác nhau. Cháu muốn hát đồ-rê-mi-fa cho thật chuẩn. Trước khi ra nước ngoài, nhất định phải học một lần ạ.”
「うるさいなあ。そら三べんだけ弾いてやるからすんだらさっさと帰るんだぞ。」ゴーシュはセロを取り上げてドレミファソラシドとひきました。するとかっこうはあわてて「ちがいます、ちがいます。こうですよ。」とからだをまえに曲げて「かっこう」と一つなきました。セロ弾きはまたセロをとって、かっこうかっこうかっこうかっこうとつづけてひきました。するとかっこうはたいへんよろこんで途中からかっこうかっこうとついて叫びました。ゴーシュははじめはむしゃくしゃしていましたがいつまでもつづけて弾いているうちにふっと何だかこれは鳥の方がほんとうのドレミファにはまっているかなという気がしてきました。どうも弾けば弾くほどかっこうの方がいいような気がするのでした。「えいこんなばかなことしていたらおれは鳥になってしまうんじゃないか。」とゴーシュはいきなりぴたりとセロをやめました。
“Phiền quá đi mất. Đây, tao chơi cho đúng ba lần thôi, xong là cút về ngay đấy nhé.” Gōshu nâng đàn, kéo đồ-rê-mi-fa-son-la-si-đô. Chim cu cu cuống quýt: “Sai rồi, sai rồi! Phải thế này cơ.” — nó ngả người về phía trước, lấy thế, rồi “cúc cu!” một tiếng. Người chơi cello lại nâng đàn, kéo liền một mạch “cúc cu, cúc cu, cúc cu, cúc cu”. Chim cu cu mừng quýnh, giữa chừng hòa giọng “cúc cu, cúc cu” theo, cong cả mình, gào mãi không thôi, hết sức là chăm chú. Ban đầu Gōshu còn bực dọc, nhưng kéo mãi kéo mãi, anh bỗng chột dạ: hình như… phía con chim mới đúng là trúng đồ-rê-mi-fa thật thì phải? Càng kéo càng thấy con cu cu hát hay hơn mình. “Ơ hay, cứ làm trò ngớ ngẩn thế này khéo tao thành chim mất!” — Gōshu đột ngột ngừng phắt tiếng đàn.
するとかっこうはどしんと頭を叩かれたようにふらふらっとして、恨めしそうにゴーシュを見て「なぜやめたんですか。ぼくらならどんな意気地ないやつでものどから血が出るまでは叫ぶんですよ。」と云いました。「何を生意気な。もう出て行け。見ろ。夜があけるんじゃないか。」するとかっこうはいきなり窓をめがけて飛び立ちました。そして硝子にはげしく頭をぶっつけてばたっと下へ落ちました。嘴のつけねからすこし血が出ています。ゴーシュは思わず足を上げて窓をばっとけりました。ガラスは二三枚物すごい音して砕け窓はわくのまま外へ落ちました。そのがらんとなった窓のあとをかっこうが矢のように外へ飛びだしました。そしてもうどこまでもどこまでもまっすぐに飛んで行ってとうとう見えなくなってしまいました。
Chim cu cu choáng váng lảo đảo như bị nện một cú vào đầu, oán trách nhìn Gōshu: “Sao thầy lại ngừng? Họ nhà cháu ấy à, đứa nhát gan đến đâu cũng gào cho đến khi trào máu họng mới thôi cơ đấy.” — “Đừng có mà lên mặt! Cút ra ngay. Nhìn kìa, trời sắp sáng rồi còn gì!” Chim cu cu bất thần lao thẳng về phía cửa sổ, đập đầu đánh rầm vào kính rồi rơi bịch xuống. Gốc mỏ nó ứa chút máu. Gōshu bất giác co chân đạp tung cửa sổ. Hai ba tấm kính vỡ loảng xoảng kinh hồn, cả khung cửa rơi tuột ra ngoài. Qua khoảng cửa trống hoác ấy, chim cu cu vút ra như một mũi tên, bay thẳng mãi, thẳng mãi, cuối cùng mất hút.
次の晩、扉がすこしあいて一疋の狸の子がはいってきました。「こら、狸、おまえは狸汁ということを知っているかっ。」すると狸の子はきちんと床へ座ったまま首をまげて考えて「狸汁ってぼく知らない。」と云いました。「だってぼくのお父さんがね、ゴーシュさんはとてもいい人でこわくないから行って習えと云ったよ。」そこでゴーシュもとうとう笑い出してしまいました。「ぼくは小太鼓の係りでねえ。セロへ合わせてもらって来いと云われたんだ。『愉快な馬車屋』を弾いてください。」
Đêm hôm sau nữa, cánh cửa hé mở, một chú lửng con (tanuki) bước vào. “Này lửng, mày có biết món canh thịt lửng không hả!” Chú lửng con vẫn ngồi ngay ngắn trên sàn, nghiêng đầu nghĩ ngợi, rồi đáp: “Canh thịt lửng thì cháu… không biết ạ.” — “Vì bố cháu bảo bác Gōshu là người rất tốt, không đáng sợ đâu, cứ đến mà học ạ.” Nghe thế Gōshu rốt cuộc cũng phì cười. “Cháu là chân trống con ạ. Bố sai cháu đến xin hòa nhịp cùng đàn cello. Bác chơi bài ‘Anh xà ích vui tính’ đi ạ.”
ゴーシュは弾きはじめました。すると狸の子は棒をもってセロの駒の下のところを拍子をとってぽんぽん叩きはじめました。それがなかなかうまいので弾いているうちにゴーシュはこれは面白いぞと思いました。おしまいまでひいてしまうと狸の子はしばらく首をまげて考えてから云いました。「ゴーシュさんはこの二番目の糸をひくときはきたいに遅れるねえ。なんだかぼくがつまずくようになるよ。」ゴーシュははっとしました。たしかにその糸はどんなに手早く弾いてもすこしたってからでないと音が出ないような気がゆうべからしていたのでした。「いや、そうかもしれない。このセロは悪いんだよ。」とゴーシュはかなしそうに云いました。狸の子はおしまいまで来たとき大へんあわてて譜や棒きれをせなかへしょっておじぎを二つ三つすると急いで外へ出て行ってしまいました。
Gōshu bắt đầu chơi. Chú lửng con cầm hai que gỗ, gõ “tùng tùng” giữ nhịp vào chỗ dưới ngựa đàn. Chú gõ khá ra trò, nên đang kéo đàn Gōshu chợt thấy: ơ, hay đấy chứ! Chơi hết bài, chú lửng con nghiêng đầu nghĩ một lúc rồi nói: “Bác Gōshu ơi, mỗi lần kéo dây thứ hai này bác lại chậm mất một tí. Làm cháu cứ như bị vấp ấy.” Gōshu giật thót. Quả thật từ đêm qua anh đã lờ mờ cảm thấy: dây ấy dù bấm nhanh đến mấy, âm cũng phát ra chậm một nhịp. “Ừ, có lẽ thế thật. Cây đàn này nó hỏng đấy mà,” Gōshu buồn buồn nói. Khi bài đàn kết thúc thì trời cũng hửng đông; chú lửng con cuống quýt buộc bản nhạc và que gỗ lên lưng, cúi chào hai ba cái rồi vội vã ra về.
次の晩、戸のすきまからはいって来たのは一ぴきの野ねずみでした。大へんちいさなこどもをつれて、青い栗の実を一つぶ前においてちゃんとおじぎをして云いました。「先生、この児があんばいがわるくて死にそうでございますが先生お慈悲になおしてやってくださいまし。」「おれが医者などやれるもんか。」すると野ねずみのお母さんは思い切ったように云いました。「先生のおかげで、兎さんのおばあさんもなおりましたし狸さんのお父さんもなおりましたし、この子ばかりお助けをいただけないとはあんまり情ないことでございます。」「ここらのものは病気になるとみんな先生のおうちの床下にはいって療すのでございます。からだ中とても血のまわりがよくなって大へんいい気持ちですぐ療る方もあれば、うちへ帰ってから療る方もあります。」
Đêm kế tiếp, lách qua khe cửa vào là một chị chuột đồng, dắt theo đứa con bé tí tẹo — bé đến mức chỉ bằng cục tẩy. Chị đặt trước mặt một hạt dẻ xanh, cúi chào tử tế rồi thưa: “Thưa thầy, cháu nhà con ốm nặng sắp chết mất, xin thầy rủ lòng từ bi chữa cho cháu ạ.” — “Tao mà làm thầy thuốc thế nào được!” Chuột mẹ như đánh liều, thưa tiếp: “Nhờ ơn thầy mà bà cụ nhà thỏ khỏi bệnh, ông bố nhà lửng cũng khỏi, riêng con nhà con lại không được thầy cứu thì tủi phận quá chừng.” — “Loài vật quanh đây hễ ốm là chui xuống gầm sàn nhà thầy để chữa đấy ạ. Nghe tiếng đàn, máu huyết khắp người lưu thông, dễ chịu vô cùng — có vị khỏi ngay tại chỗ, có vị về đến nhà mới khỏi ạ.”
「ああそうか。おれのセロの音がごうごうひびくと、それがあんまの代りになっておまえたちの病気がなおるというのか。よし。わかったよ。やってやろう。」ゴーシュはいきなり野ねずみのこどもをつまんでセロの孔から中へ入れてしまいました。それから弓をとって何とかラプソディとかいうものをごうごうがあがあ弾きました。間もなくこどものねずみが出てきました。しばらく眼をつぶったままぶるぶるふるえていましたがにわかに起きあがって走りだした。「ああよくなったんだ。ありがとうございます。ありがとうございます。」ゴーシュは何だかかあいそうになって戸棚からパンを一つまみむしって野ねずみの前へ置きました。野ねずみはもうまるでばかのようになって泣いたり笑ったりおじぎをしたりしてから大じそうにそれをくわえてこどもをさきに立てて外へ出て行きました。
“À, ra vậy. Tiếng cello của tao rền vang lên thì thành ra như xoa bóp, chữa được bệnh cho chúng mày chứ gì. Được. Hiểu rồi. Để tao chơi cho.” Gōshu nhón luôn chú chuột con, thả qua lỗ thoát âm vào trong lòng đàn cello. Rồi anh cầm cung, kéo ầm ầm gào gào một bản gọi là rhapsody gì đó. Chẳng mấy chốc chuột con chui ra: nhắm nghiền mắt run lẩy bẩy một hồi, rồi bỗng vùng dậy chạy nhảy tung tăng. “Ôi, khỏi rồi! Đội ơn thầy! Đội ơn thầy ạ!” Gōshu tự dưng thấy thương thương, bèn mở chạn, véo một mẩu bánh mì đặt trước mặt chuột mẹ. Chuột mẹ mừng đến phát rồ, hết khóc lại cười, lại vái lấy vái để, rồi trân trọng ngậm mẩu bánh, giục con đi trước, ra về.
それから六日目の晩でした。金星音楽団の人たちは首尾よく第六交響曲を仕上げたのです。ホールでは拍手の音がまだ嵐のように鳴って居ります。大きな白いリボンを胸につけた司会者がはいって来ました。「アンコールをやっていますが、何かみじかいものでもきかせてやってくださいませんか。」「だめだ。おい、ゴーシュ君、何か出て弾いてやってくれ。」「わたしがですか。」ゴーシュは呆気にとられました。みんなもセロをむりにゴーシュに持たせて扉をあけるといきなり舞台へゴーシュを押し出してしまいました。
Rồi đến đêm thứ sáu sau đó. Dàn nhạc Kim Tinh đã trình diễn trọn vẹn bản Giao hưởng số Sáu một cách mỹ mãn. Trong hội trường, tiếng vỗ tay vẫn rền vang như bão. Người dẫn chương trình đeo chiếc nơ trắng to trước ngực bước vào: “Khán giả đang đòi diễn thêm, xin quý đoàn cho nghe một bản gì ngăn ngắn được không ạ?” — “Không được. Này, cậu Gōshu, ra chơi cái gì đi.” — “Tôi… tôi ấy ạ?” Gōshu sững sờ. Mọi người ấn cây đàn cello vào tay Gōshu, mở cửa, rồi đẩy phắt anh ra sân khấu.
「どこまでひとをばかにするんだ。よし見ていろ。印度の虎狩をひいてやるから。」ゴーシュはすっかり落ちついて舞台のまん中へ出ました。それからあの猫の来たときのようにまるで怒った象のような勢で虎狩りを弾きました。ところが聴衆はしいんとなって一生けん命聞いています。曲が終るとゴーシュはもうみんなの方などは見もせずちょうどその猫のようにすばやくセロをもって楽屋へ遁げ込みました。すると楽長は立って云いました。「ゴーシュ君、よかったぞお。あんな曲だけれどもここではみんなかなり本気になって聞いてたぞ。一週間か十日の間にずいぶん仕上げたなあ。十日前とくらべたらまるで赤ん坊と兵隊だ。やろうと思えばいつでもやれたんじゃないか、君。」仲間もみんな立って来て「よかったぜ」とゴーシュに云いました。
“Định giễu người ta đến bao giờ nữa hả. Được, cứ xem đây. Ta chơi luôn bản ‘Săn hổ ở Ấn Độ’ cho mà coi!” Gōshu điềm tĩnh lạ thường, bước ra chính giữa sân khấu. Rồi hệt như cái đêm con mèo mò đến, anh kéo bản Săn Hổ với khí thế của một con voi nổi giận. Vậy mà khán giả im phăng phắc, chăm chú lắng nghe hết mình. Bản nhạc vừa dứt, Gōshu chẳng buồn nhìn ai, ôm đàn chuồn vội vào hậu trường, nhanh y như con mèo hôm nọ. Nhưng nhạc trưởng đã đứng dậy nói: “Cậu Gōshu! Tuyệt lắm! Bài như thế mà ở đây ai nấy đều nghe nghiêm túc ra trò đấy. Mới một tuần, mười ngày mà cậu tiến bộ ghê thật. So với mười ngày trước thì đúng là trẻ sơ sinh với người lính. Hóa ra muốn làm là cậu làm được từ lâu rồi, đúng không hả!” Các bạn trong đoàn cũng xúm lại: “Hay lắm!” — họ nói với Gōshu.
その晩遅くゴーシュは自分のうちへ帰って来ました。そしてまた水をがぶがぶ呑みました。それから窓をあけていつかかっこうの飛んで行ったと思った遠くのそらをながめながら、「ああかっこう。あのときはすまなかったなあ。おれは怒ったんじゃなかったんだ。」と云いました。
Đêm ấy, khuya lắm Gōshu mới về đến nhà. Anh lại tu nước ừng ực. Rồi anh mở cửa sổ, ngước nhìn khoảng trời xa — nơi ngày nào con chim cu cu đã bay đi — và nói: “Cu cu ơi. Hôm ấy tao có lỗi với mày quá. Tao đâu có giận mày đâu.”
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| かっこう | 郭公 | chim cu cu |
| 狸 | たぬき | con lửng chó (tanuki) |
| 野ねずみ | のねずみ | chuột đồng |
| 拍子をとる | ひょうしをとる | giữ nhịp |
| お慈悲 | おじひ | lòng từ bi |
| 床下 | ゆかした | gầm sàn nhà |
| 拍手 | はくしゅ | tiếng vỗ tay |
| 聴衆 | ちょうしゅう | khán thính giả |
| 本気 | ほんき | nghiêm túc, thật lòng |
| すまなかった | — | “tao có lỗi”, xin lỗi (thân mật) |
Nguồn văn bản gốc: 宮沢賢治「セロ弾きのゴーシュ」— tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「新編 銀河鉄道の夜」新潮文庫、新潮社。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.
📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.
Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.





Gửi phản hồi