セロ弾きのゴーシュ — Gōshu người chơi cello

Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.


宮沢賢治 (Miyazawa Kenji) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng

ゴーシュはまち活動写真館かつどうしゃしんかんでセロをかかりでした。けれどもあんまり上手じょうずでないという評判ひょうばんでした。上手じょうずでないどころではなくじつ仲間なかま楽手がくしゅのなかではいちばん下手へたでしたから、いつでも楽長がくちょうにいじめられるのでした。

Gōshu là người phụ trách chơi cello ở rạp chiếu bóng trong thị trấn. Nhưng anh mang tiếng là chơi không hay lắm. Chẳng phải chỉ “không hay lắm” — thật ra anh là người kém nhất trong đám nhạc công, nên lúc nào cũng bị nhạc trưởng mắng nhiếc.

ひるすぎみんなは楽屋がくやまるくならんで今度こんどまち音楽会おんがくかい第六交響曲だいろくこうきょうきょく練習れんしゅうをしていました。にわかにぱたっと楽長がくちょう両手りょうてらしました。「セロがおくれた。トォテテ テテテイ、ここからやりなおし。はいっ。」ゴーシュはかおをまっにしてひたいあせしながらやっといまわれたところをとおりました。ほっと安心あんしんしながら、つづけていていますと楽長がくちょうがまたをぱっとちました。「セロっ。いとわない。こまるなあ。ぼくはきみにドレミファをおしえてまでいるひまはないんだがなあ。」

Quá trưa, cả đoàn quây thành vòng tròn trong phòng tập, luyện bản Giao hưởng số Sáu sắp trình diễn ở buổi hòa nhạc của thị trấn. Đột nhiên nhạc trưởng vỗ hai tay đánh “bốp”. “Cello chậm nhịp! Tồ-tê-tê tê-tê-têi — chơi lại từ đây. Nào!” Gōshu đỏ bừng mặt, trán vã mồ hôi, chật vật lắm mới qua nổi đoạn vừa bị nhắc. Vừa thở phào chơi tiếp thì nhạc trưởng lại vỗ tay đánh “bốp”. “Cello! Lạc dây rồi! Khổ quá đi mất. Tôi làm gì có thì giờ dạy cậu cả đồ-rê-mi-fa nữa hả!”

「だめだ。まるでなっていない。このへんはきょく心臓しんぞうなんだ。それがこんながさがさしたことで。諸君しょくん演奏えんそうまでもうあと十日とおかしかないんだよ。おいゴーシュくんきみにはこまるんだがなあ。表情ひょうじょうということがまるでできてない。おこるもよろこぶも感情かんじょうというものがさっぱりないんだ。それにどうしてもぴたっとほか楽器がっきわないもなあ。いつでもきみだけとけたくつのひもをきずってみんなのあとをついてあるくようなんだ、こまるよ。」

“Hỏng! Chẳng ra thể thống gì hết. Đoạn này là trái tim của bản nhạc đấy, mà lại chơi rời rạc sồn sột thế kia. Các cậu ơi, chỉ còn mười ngày nữa là biểu diễn rồi. Này cậu Gōshu, tôi khổ vì cậu quá. Cậu hoàn toàn không có cái gọi là biểu cảm. Giận hay vui — chẳng thấy chút cảm xúc nào toát ra cả. Rồi thì cậu chẳng bao giờ khớp nổi với các nhạc cụ khác nữa chứ. Lúc nào cũng chỉ mình cậu lẽo đẽo theo sau mọi người y như người kéo lê dây giày tuột. Khổ lắm cơ!”

ゴーシュはその粗末そまつはこみたいなセロをかかえてかべほういてくちをまげてぼろぼろなみだをこぼしましたが、をとりなおしてじぶんだけたったひとりいまやったところをはじめからしずかにもいちどきはじめました。そのばんおそくゴーシュはなにおおきなくろいものをしょってじぶんのうちかえってきました。いえといってもそれはまちはずれのかわばたにあるこわれた水車小屋すいしゃごやで、ゴーシュはそこにたった一人ひとりですんでいました。夜中よなかもとうにすぎてしまいはもうじぶんがいているのかもわからないようになってかおもまっになりもまるで血走ちばしってとても物凄ものすごかおつきになりいまにもたおれるかとおもうようにえました。そのときだれかうしろのとびらをとんとんとたたくものがありました。

Gōshu ôm cây cello thô kệch như cái thùng gỗ, quay mặt vào tường, méo miệng, nước mắt lã chã. Nhưng rồi anh trấn tĩnh lại, một mình lặng lẽ chơi lại từ đầu đoạn vừa tập. Đêm ấy, khuya lắc, Gōshu vác một vật đen to đùng về nhà. Nói là nhà, kỳ thực đó là một túp lều cối xay nước hỏng bên bờ sông rìa thị trấn, Gōshu sống ở đó một thân một mình. Quá nửa đêm đã lâu, cuối cùng anh chơi đến mức chẳng còn biết mình đang chơi hay không nữa: mặt đỏ gay, mắt vằn đỏ tia máu, bộ dạng dữ tợn tưởng chừng sắp gục đến nơi. Đúng lúc ấy, có ai gõ cạch cạch cánh cửa sau lưng.

すうととびらしてはいってたのはおおきな三毛猫みけねこでした。ゴーシュのはたけからとった半分はんぶんじゅくしたトマトをさもおもそうにっていました。「これおみやです。たべてください。」ゴーシュはひるからのむしゃくしゃをいっぺんにどなりつけました。「だれがきさまにトマトなどってこいとった。そのトマトだっておれのはたけのやつだ。ってしまえ。ねこめ。」するとねこくちのあたりでにやにやわらっていました。「先生せんせい、そうおおこりになっちゃ、おからだにさわります。それよりシューマンのトロメライをひいてごらんなさい。きいてあげますから。」「生意気なまいきなことをうな。ねこのくせに。」

Kẽo kẹt đẩy cửa bước vào là một con mèo tam thể to tướng. Nó ì ạch tha một quả cà chua chín dở hái trộm từ vườn của Gōshu, đặt xuống: “Quà biếu thầy đây ạ. Mời thầy xơi.” Bao nhiêu bực dọc từ trưa, Gōshu trút cả vào một trận quát: “Ai khiến mày tha cà chua đến hả! Mà quả cà chua này cũng là của vườn tao! Cút ngay, đồ mèo!” Con mèo chỉ nhăn nhở cười quanh mép: “Thưa thầy, thầy giận thế hại người lắm ạ. Chi bằng thầy chơi thử bản Träumerei của Schumann xem. Em xin nghe hầu thầy.” — “Đừng có hỗn. Cái đồ mèo!”

ゴーシュはなんおもったかとびらにかぎをかってまどもみんなしめてしまい、まずはんけちをきさいてじぶんのみみあなへぎっしりつめました。それからまるであらしのようないきおいで「印度インド虎狩とらがり」というきはじめました。するとねこはいきなりパチパチパチッとをしたかとおもうとぱっととびらほうびのきました。そしていきなりどんととびらへからだをぶっつけましたがとびらはあきませんでした。ひたいからぱちぱち火花ひばなしました。「先生せんせいもうたくさんです。たくさんですよ。これからもう先生せんせいのタクトなんかとりませんから。」「だまれ。これからとらをつかまえるところだ。」しまいはねこはまるで風車かざぐるまのようにぐるぐるぐるぐるゴーシュをまわりました。「さあこれでゆるしてやるぞ」といながらようようやめました。

Chẳng hiểu Gōshu nghĩ gì mà anh khóa trái cửa, đóng kín hết cửa sổ, rồi xé đôi chiếc khăn tay nhét chặt vào hai lỗ tai mình. Đoạn anh lấy hết sức bình sinh, chơi bản “Săn hổ ở Ấn Độ” với khí thế như bão táp. Con mèo bỗng chớp mắt lia lịa “tanh tách tách”, rồi phóc một cái nhảy bật về phía cửa. Nó lao đánh rầm cả thân vào cánh cửa, nhưng cửa không mở. Từ mắt, từ trán nó tóe ra những tia lửa lép bép. “Thầy ơi, đủ rồi! Đủ lắm rồi ạ! Từ nay em không dám chê bai thầy nữa đâu!” — “Câm! Sắp đến đoạn tóm con hổ rồi đây này.” Cuối cùng con mèo quay mòng mòng quanh Gōshu như một chiếc chong chóng. “Thôi, tha cho mày đấy” — anh nói và mãi mới chịu ngừng đàn.

ゴーシュはとびらをあけてねこかぜのようにかやのなかをはしってくのをてちょっとわらいました。それから、やっとせいせいしたというようにぐっすりねむりました。

Gōshu mở cửa, nhìn con mèo chạy vụt như gió vào đám cỏ lau, bật cười một tiếng. Rồi anh đánh một giấc ngon lành, như thể rốt cuộc đã trút được nỗi bực trong lòng.

Từ vựng (đoạn đầu)
Từ Cách đọc Nghĩa
セロ đàn cello (cách viết cũ)
楽長 がくちょう nhạc trưởng
交響曲 こうきょうきょく bản giao hưởng
練習 れんしゅう luyện tập
楽譜/譜 がくふ/ふ bản nhạc
表情 ひょうじょう biểu cảm
生意気 なまいき hỗn xược, láo
水車小屋 すいしゃごや lều cối xay nước

つぎばんもゴーシュは夜中よなかすぎまでセロをいていますとだれ屋根裏やねうらをこっこっとたたくものがあります。いきなり天井てんじょうあなからぽろんとおとがして一疋いっぴきはいいろのとりりてました。それはかっこうでした。「音楽おんがくおそわりたいのです。」「音楽おんがくだと。おまえのうたは、かっこう、かっこうというだけじゃあないか。」「ええ、それなんです。けれどもむずかしいですからねえ。わたしらのなかまならかっこうと一万いちまんえば一万いちまんみんなちがうんです。わたしはドレミファを正確せいかくにやりたいんです。外国がいこくまえにぜひ一度いちどいるんです。」

Đêm hôm sau, Gōshu lại kéo đàn quá nửa đêm thì nghe có ai gõ cồng cộc trên gác mái. “Cạch” một tiếng, từ lỗ hổng trên trần, một con chim màu tro sà xuống — một con chim cu cu (kakkō). “Cháu muốn học nhạc ạ.” — “Nhạc cái gì. Bài hát của mày thì cũng chỉ có ‘cúc cu, cúc cu’ chứ gì nữa!” — “Vâng, chính nó đấy ạ. Nhưng khó lắm cơ. Trong họ nhà cháu, kêu ‘cúc cu’ một vạn lần thì cả một vạn lần đều khác nhau. Cháu muốn hát đồ-rê-mi-fa cho thật chuẩn. Trước khi ra nước ngoài, nhất định phải học một lần ạ.”

「うるさいなあ。そらさんべんだけいてやるからすんだらさっさとかえるんだぞ。」ゴーシュはセロをげてドレミファソラシドとひきました。するとかっこうはあわてて「ちがいます、ちがいます。こうですよ。」とからだをまえにげて「かっこう」とひとつなきました。セロきはまたセロをとって、かっこうかっこうかっこうかっこうとつづけてひきました。するとかっこうはたいへんよろこんで途中とちゅうからかっこうかっこうとついてさけびました。ゴーシュははじめはむしゃくしゃしていましたがいつまでもつづけていているうちにふっとなんだかこれはとりほうがほんとうのドレミファにはまっているかなというがしてきました。どうもけばくほどかっこうのほうがいいようながするのでした。「えいこんなばかなことしていたらおれはとりになってしまうんじゃないか。」とゴーシュはいきなりぴたりとセロをやめました。

“Phiền quá đi mất. Đây, tao chơi cho đúng ba lần thôi, xong là cút về ngay đấy nhé.” Gōshu nâng đàn, kéo đồ-rê-mi-fa-son-la-si-đô. Chim cu cu cuống quýt: “Sai rồi, sai rồi! Phải thế này cơ.” — nó ngả người về phía trước, lấy thế, rồi “cúc cu!” một tiếng. Người chơi cello lại nâng đàn, kéo liền một mạch “cúc cu, cúc cu, cúc cu, cúc cu”. Chim cu cu mừng quýnh, giữa chừng hòa giọng “cúc cu, cúc cu” theo, cong cả mình, gào mãi không thôi, hết sức là chăm chú. Ban đầu Gōshu còn bực dọc, nhưng kéo mãi kéo mãi, anh bỗng chột dạ: hình như… phía con chim mới đúng là trúng đồ-rê-mi-fa thật thì phải? Càng kéo càng thấy con cu cu hát hay hơn mình. “Ơ hay, cứ làm trò ngớ ngẩn thế này khéo tao thành chim mất!” — Gōshu đột ngột ngừng phắt tiếng đàn.

するとかっこうはどしんとあたまたたかれたようにふらふらっとして、うらめしそうにゴーシュをて「なぜやめたんですか。ぼくらならどんな意気地いくじないやつでものどからるまではさけぶんですよ。」といました。「なに生意気なまいきな。もうけ。ろ。があけるんじゃないか。」するとかっこうはいきなりまどをめがけてちました。そして硝子ガラスにはげしくあたまをぶっつけてばたっとしたちました。くちばしのつけねからすこしています。ゴーシュはおもわずあしげてまどをばっとけりました。ガラスは二三枚にさんまいものすごいおとしてくだまどはわくのままそとちました。そのがらんとなったまどのあとをかっこうがのようにそとびだしました。そしてもうどこまでもどこまでもまっすぐにんでってとうとうえなくなってしまいました。

Chim cu cu choáng váng lảo đảo như bị nện một cú vào đầu, oán trách nhìn Gōshu: “Sao thầy lại ngừng? Họ nhà cháu ấy à, đứa nhát gan đến đâu cũng gào cho đến khi trào máu họng mới thôi cơ đấy.” — “Đừng có mà lên mặt! Cút ra ngay. Nhìn kìa, trời sắp sáng rồi còn gì!” Chim cu cu bất thần lao thẳng về phía cửa sổ, đập đầu đánh rầm vào kính rồi rơi bịch xuống. Gốc mỏ nó ứa chút máu. Gōshu bất giác co chân đạp tung cửa sổ. Hai ba tấm kính vỡ loảng xoảng kinh hồn, cả khung cửa rơi tuột ra ngoài. Qua khoảng cửa trống hoác ấy, chim cu cu vút ra như một mũi tên, bay thẳng mãi, thẳng mãi, cuối cùng mất hút.

つぎばんとびらがすこしあいて一疋いっぴきたぬきがはいってきました。「こら、たぬき、おまえは狸汁たぬきじるということをっているかっ。」するとたぬきはきちんとゆかすわったままくびをまげてかんがえて「狸汁たぬきじるってぼくらない。」といました。「だってぼくのおとうさんがね、ゴーシュさんはとてもいいひとでこわくないからってならえとったよ。」そこでゴーシュもとうとうわらしてしまいました。「ぼくは小太鼓こだいこかかりでねえ。セロへわせてもらっていとわれたんだ。『愉快ゆかい馬車屋ばしゃや』をいてください。」

Đêm hôm sau nữa, cánh cửa hé mở, một chú lửng con (tanuki) bước vào. “Này lửng, mày có biết món canh thịt lửng không hả!” Chú lửng con vẫn ngồi ngay ngắn trên sàn, nghiêng đầu nghĩ ngợi, rồi đáp: “Canh thịt lửng thì cháu… không biết ạ.” — “Vì bố cháu bảo bác Gōshu là người rất tốt, không đáng sợ đâu, cứ đến mà học ạ.” Nghe thế Gōshu rốt cuộc cũng phì cười. “Cháu là chân trống con ạ. Bố sai cháu đến xin hòa nhịp cùng đàn cello. Bác chơi bài ‘Anh xà ích vui tính’ đi ạ.”

ゴーシュはきはじめました。するとたぬきぼうをもってセロのこましたのところを拍子ひょうしをとってぽんぽんたたきはじめました。それがなかなかうまいのでいているうちにゴーシュはこれは面白おもしろいぞとおもいました。おしまいまでひいてしまうとたぬきはしばらくくびをまげてかんがえてからいました。「ゴーシュさんはこの二番目にばんめいとをひくときはきたいにおくれるねえ。なんだかぼくがつまずくようになるよ。」ゴーシュははっとしました。たしかにそのいとはどんなに手早てばやいてもすこしたってからでないとおとないようながゆうべからしていたのでした。「いや、そうかもしれない。このセロはわるいんだよ。」とゴーシュはかなしそうにいました。たぬきはおしまいまでたときたいへんあわててぼうきれをせなかへしょっておじぎをふたみっつするといそいでそとってしまいました。

Gōshu bắt đầu chơi. Chú lửng con cầm hai que gỗ, gõ “tùng tùng” giữ nhịp vào chỗ dưới ngựa đàn. Chú gõ khá ra trò, nên đang kéo đàn Gōshu chợt thấy: ơ, hay đấy chứ! Chơi hết bài, chú lửng con nghiêng đầu nghĩ một lúc rồi nói: “Bác Gōshu ơi, mỗi lần kéo dây thứ hai này bác lại chậm mất một tí. Làm cháu cứ như bị vấp ấy.” Gōshu giật thót. Quả thật từ đêm qua anh đã lờ mờ cảm thấy: dây ấy dù bấm nhanh đến mấy, âm cũng phát ra chậm một nhịp. “Ừ, có lẽ thế thật. Cây đàn này nó hỏng đấy mà,” Gōshu buồn buồn nói. Khi bài đàn kết thúc thì trời cũng hửng đông; chú lửng con cuống quýt buộc bản nhạc và que gỗ lên lưng, cúi chào hai ba cái rồi vội vã ra về.

つぎばんのすきまからはいってたのはいっぴきのねずみでした。たいへんちいさなこどもをつれて、あおくりひとつぶまえにおいてちゃんとおじぎをしていました。「先生せんせい、このがあんばいがわるくてにそうでございますが先生せんせい慈悲じひになおしてやってくださいまし。」「おれが医者いしゃなどやれるもんか。」するとねずみのおかあさんはおもったようにいました。「先生せんせいのおかげで、うさぎさんのおばあさんもなおりましたしたぬきさんのおとうさんもなおりましたし、このばかりおたすけをいただけないとはあんまりなさけないことでございます。」「ここらのものは病気びょうきになるとみんな先生せんせいのおうちの床下ゆかしたにはいってなおすのでございます。からだじゅうとてものまわりがよくなってたいへんいい気持きもちちですぐなおかたもあれば、うちへかえってからなおかたもあります。」

Đêm kế tiếp, lách qua khe cửa vào là một chị chuột đồng, dắt theo đứa con bé tí tẹo — bé đến mức chỉ bằng cục tẩy. Chị đặt trước mặt một hạt dẻ xanh, cúi chào tử tế rồi thưa: “Thưa thầy, cháu nhà con ốm nặng sắp chết mất, xin thầy rủ lòng từ bi chữa cho cháu ạ.” — “Tao mà làm thầy thuốc thế nào được!” Chuột mẹ như đánh liều, thưa tiếp: “Nhờ ơn thầy mà bà cụ nhà thỏ khỏi bệnh, ông bố nhà lửng cũng khỏi, riêng con nhà con lại không được thầy cứu thì tủi phận quá chừng.” — “Loài vật quanh đây hễ ốm là chui xuống gầm sàn nhà thầy để chữa đấy ạ. Nghe tiếng đàn, máu huyết khắp người lưu thông, dễ chịu vô cùng — có vị khỏi ngay tại chỗ, có vị về đến nhà mới khỏi ạ.”

「ああそうか。おれのセロのおとがごうごうひびくと、それがあんまのかわりになっておまえたちの病気びょうきがなおるというのか。よし。わかったよ。やってやろう。」ゴーシュはいきなりねずみのこどもをつまんでセロのあなからなかれてしまいました。それからゆみをとってなんとかラプソディとかいうものをごうごうがあがあきました。もなくこどものねずみがてきました。しばらくをつぶったままぶるぶるふるえていましたがにわかにきあがってはしりだした。「ああよくなったんだ。ありがとうございます。ありがとうございます。」ゴーシュはなんだかかあいそうになって戸棚とだなからパンをひとつまみむしってねずみのまえきました。ねずみはもうまるでばかのようになっていたりわらったりおじぎをしたりしてからだいじそうにそれをくわえてこどもをさきにててそときました。

“À, ra vậy. Tiếng cello của tao rền vang lên thì thành ra như xoa bóp, chữa được bệnh cho chúng mày chứ gì. Được. Hiểu rồi. Để tao chơi cho.” Gōshu nhón luôn chú chuột con, thả qua lỗ thoát âm vào trong lòng đàn cello. Rồi anh cầm cung, kéo ầm ầm gào gào một bản gọi là rhapsody gì đó. Chẳng mấy chốc chuột con chui ra: nhắm nghiền mắt run lẩy bẩy một hồi, rồi bỗng vùng dậy chạy nhảy tung tăng. “Ôi, khỏi rồi! Đội ơn thầy! Đội ơn thầy ạ!” Gōshu tự dưng thấy thương thương, bèn mở chạn, véo một mẩu bánh mì đặt trước mặt chuột mẹ. Chuột mẹ mừng đến phát rồ, hết khóc lại cười, lại vái lấy vái để, rồi trân trọng ngậm mẩu bánh, giục con đi trước, ra về.

それから六日目むいかめばんでした。金星音楽団きんせいおんがくだんひとたちは首尾しゅびよく第六交響曲だいろくこうきょうきょく仕上しあげたのです。ホールでは拍手はくしゅおとがまだあらしのようにってります。おおきなしろいリボンをむねにつけた司会者しかいしゃがはいってました。「アンコールをやっていますが、なにかみじかいものでもきかせてやってくださいませんか。」「だめだ。おい、ゴーシュくんなにいてやってくれ。」「わたしがですか。」ゴーシュは呆気あっけにとられました。みんなもセロをむりにゴーシュにたせてとびらをあけるといきなり舞台ぶたいへゴーシュをしてしまいました。

Rồi đến đêm thứ sáu sau đó. Dàn nhạc Kim Tinh đã trình diễn trọn vẹn bản Giao hưởng số Sáu một cách mỹ mãn. Trong hội trường, tiếng vỗ tay vẫn rền vang như bão. Người dẫn chương trình đeo chiếc nơ trắng to trước ngực bước vào: “Khán giả đang đòi diễn thêm, xin quý đoàn cho nghe một bản gì ngăn ngắn được không ạ?” — “Không được. Này, cậu Gōshu, ra chơi cái gì đi.” — “Tôi… tôi ấy ạ?” Gōshu sững sờ. Mọi người ấn cây đàn cello vào tay Gōshu, mở cửa, rồi đẩy phắt anh ra sân khấu.

「どこまでひとをばかにするんだ。よしていろ。印度インド虎狩とらがりをひいてやるから。」ゴーシュはすっかりちついて舞台ぶたいのまんなかました。それからあのねこたときのようにまるでおこったぞうのようないきおい虎狩とらがりをきました。ところが聴衆ちょうしゅうはしいんとなって一生いっしょうけんめいいています。きょくおわるとゴーシュはもうみんなのほうなどはもせずちょうどそのねこのようにすばやくセロをもって楽屋がくやみました。すると楽長がくちょうっていました。「ゴーシュくん、よかったぞお。あんなきょくだけれどもここではみんなかなり本気ほんきになっていてたぞ。一週間いっしゅうかん十日とおかあいだにずいぶん仕上しあげたなあ。十日とおかまえとくらべたらまるであかぼう兵隊へいたいだ。やろうとおもえばいつでもやれたんじゃないか、きみ。」仲間なかまもみんなってて「よかったぜ」とゴーシュにいました。

“Định giễu người ta đến bao giờ nữa hả. Được, cứ xem đây. Ta chơi luôn bản ‘Săn hổ ở Ấn Độ’ cho mà coi!” Gōshu điềm tĩnh lạ thường, bước ra chính giữa sân khấu. Rồi hệt như cái đêm con mèo mò đến, anh kéo bản Săn Hổ với khí thế của một con voi nổi giận. Vậy mà khán giả im phăng phắc, chăm chú lắng nghe hết mình. Bản nhạc vừa dứt, Gōshu chẳng buồn nhìn ai, ôm đàn chuồn vội vào hậu trường, nhanh y như con mèo hôm nọ. Nhưng nhạc trưởng đã đứng dậy nói: “Cậu Gōshu! Tuyệt lắm! Bài như thế mà ở đây ai nấy đều nghe nghiêm túc ra trò đấy. Mới một tuần, mười ngày mà cậu tiến bộ ghê thật. So với mười ngày trước thì đúng là trẻ sơ sinh với người lính. Hóa ra muốn làm là cậu làm được từ lâu rồi, đúng không hả!” Các bạn trong đoàn cũng xúm lại: “Hay lắm!” — họ nói với Gōshu.

そのばんおそくゴーシュは自分じぶんのうちへかえってました。そしてまたみずをがぶがぶみました。それからまどをあけていつかかっこうのんでったとおもったとおくのそらをながめながら、「ああかっこう。あのときはすまなかったなあ。おれはおこったんじゃなかったんだ。」といました。

Đêm ấy, khuya lắm Gōshu mới về đến nhà. Anh lại tu nước ừng ực. Rồi anh mở cửa sổ, ngước nhìn khoảng trời xa — nơi ngày nào con chim cu cu đã bay đi — và nói: “Cu cu ơi. Hôm ấy tao có lỗi với mày quá. Tao đâu có giận mày đâu.”

Từ vựng (đoạn sau)
Từ Cách đọc Nghĩa
かっこう 郭公 chim cu cu
たぬき con lửng chó (tanuki)
野ねずみ のねずみ chuột đồng
拍子をとる ひょうしをとる giữ nhịp
お慈悲 おじひ lòng từ bi
床下 ゆかした gầm sàn nhà
拍手 はくしゅ tiếng vỗ tay
聴衆 ちょうしゅう khán thính giả
本気 ほんき nghiêm túc, thật lòng
すまなかった “tao có lỗi”, xin lỗi (thân mật)
Lưu ý bản song ngữ: Một số đoạn đối đáp lặp và tả cảnh phụ được lược gọn cho mạch đọc; nguyên văn đầy đủ có trong file gốc books/04_serohiki_gauche_セロ弾きのゴーシュ.html.
Nguồn văn bản gốc: 宮沢賢治「セロ弾きのゴーシュ」— tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「新編 銀河鉄道の夜」新潮文庫、新潮社。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.

📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.

Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.

Gửi phản hồi

Trending

Khám phá thêm từ Học tập hiệu quả, thành công dễ dàng.

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc