Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.
芥川龍之介 (Akutagawa Ryūnosuke) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng
ある時雨の降る晩のことです。私を乗せた人力車は、何度も大森界隈の険しい坂を上ったり下りたりして、やっと竹藪に囲まれた、小さな西洋館の前に梶棒を下しました。もう鼠色のペンキの剥げかかった、狭苦しい玄関には、車夫の出した提灯の明りで見ると、印度人マティラム・ミスラと日本字で書いた、これだけは新しい、瀬戸物の標札がかかっています。
Chuyện xảy ra vào một đêm mưa phùn cuối thu. Chiếc xe kéo chở tôi lên xuống mấy bận những con dốc cheo leo vùng Ōmori, cuối cùng mới hạ càng trước một ngôi nhà kiểu Tây nhỏ, bốn bề vây bởi rặng tre. Nơi hiên cửa chật chội, lớp sơn xám đã tróc lở, dưới ánh đèn lồng người phu xe giơ lên, thấy treo một tấm biển sứ — chỉ riêng nó là còn mới — đề bằng chữ Nhật: “Người Ấn Độ — Matiram Misra.”
マティラム・ミスラ君と云えば、もう皆さんの中にも、御存じの方が少くないかも知れません。ミスラ君は永年印度の独立を計っているカルカッタ生れの愛国者で、同時にまたハッサン・カンという名高い婆羅門の秘法を学んだ、年の若い魔術の大家なのです。私はちょうど一月ばかり以前から、ある友人の紹介でミスラ君と交際していましたが、肝腎の魔術を使う時には、まだ一度も居合せたことがありません。そこで今夜は前以て、魔術を使って見せてくれるように、手紙で頼んで置いてから、寂しい大森の町はずれまで、人力車を急がせて来たのです。
Nhắc đến anh Matiram Misra, có lẽ trong quý vị không ít người đã biết tiếng. Anh Misra là nhà ái quốc sinh ở Calcutta, nhiều năm mưu cầu độc lập cho Ấn Độ; đồng thời cũng là một bậc thầy ma thuật trẻ tuổi, từng theo học bí pháp của vị Bà-la-môn lừng danh Hassan Khan. Tôi quen giao du với anh Misra chừng một tháng nay qua lời giới thiệu của một người bạn, nhưng cái chính yếu — lúc anh thi triển ma thuật — thì tôi chưa lần nào được chứng kiến. Vì vậy tối nay, tôi viết thư xin trước rằng hãy biểu diễn ma thuật cho tôi xem, rồi giục xe kéo đến tận vùng ven thị trấn Ōmori hiu quạnh này.
「今晩は、雨の降るのによく御出ででした。」色のまっ黒な、眼の大きい、柔な口髭のあるミスラ君は、テエブルの上にある石油ランプの心を撚りながら、元気よく私に挨拶しました。「いや、あなたの魔術さえ拝見出来れば、雨くらいは何ともありません。」私は椅子に腰かけてから、うす暗い石油ランプの光に照された、陰気な部屋の中を見廻しました。ミスラ君の部屋は質素な西洋間で、しかもその椅子や机が、みんな古ぼけた物ばかりで、縁へ赤く花模様を織り出した、派手なテエブル掛けでさえ、今にもずたずたに裂けるかと思うほど、糸目が露になっていました。
“Chào anh, mưa gió thế này mà anh vẫn quá bộ đến, quý hóa quá.” Anh Misra — da đen nhánh, mắt to, hàng ria mềm — vừa vặn bấc chiếc đèn dầu trên bàn vừa chào tôi rổn rảng. “Ồ, miễn được chiêm ngưỡng ma thuật của anh thì mưa gió nhằm nhò gì.” Ngồi xuống ghế, tôi đưa mắt nhìn quanh căn phòng u ám được rọi bằng ánh đèn dầu lù mù. Phòng anh Misra là gian phòng Tây giản dị, bàn ghế thảy đều cũ kỹ; ngay tấm khăn trải bàn sặc sỡ dệt nổi hoa văn đỏ viền quanh mép cũng sờn lộ cả đường chỉ, tưởng chừng sắp rách bươm đến nơi.
私は遠慮なく葉巻を一本取って、燐寸の火をうつしながら、「確かあなたの御使いになる精霊は、ジンとかいう名前でしたね。するとこれから私が拝見する魔術と言うのも、そのジンの力を借りてなさるのですか。」ミスラ君は自分も葉巻へ火をつけると、にやにや笑いながら、「ジンなどという精霊があると思ったのは、もう何百年も昔のことです。私がハッサン・カンから学んだ魔術は、あなたでも使おうと思えば使えますよ。高が進歩した催眠術に過ぎないのですから。――御覧なさい。この手をただ、こうしさえすれば好いのです。」
Tôi chẳng khách sáo, rút một điếu xì gà, châm lửa diêm, hỏi: “Nếu tôi nhớ không nhầm, vị tinh linh anh sai khiến tên là Djinn thì phải. Vậy thứ ma thuật tôi sắp được xem đây cũng là mượn sức của Djinn ấy chăng?” Anh Misra cũng châm xì gà, cười tủm tỉm: “Cái thời người ta tin có tinh linh Djinn đã là chuyện mấy trăm năm trước rồi. Thứ ma thuật tôi học từ Hassan Khan thì ngay cả anh, muốn dùng là dùng được thôi. Nói cho cùng nó chẳng qua là thuật thôi miên tân tiến. — Anh xem này. Chỉ cần làm thế này với bàn tay là được.”
ミスラ君は手を挙げて、二三度私の眼の前へ三角形のようなものを描きましたが、やがてその手をテエブルの上へやると、縁へ赤く織り出した模様の花をつまみ上げました。私はびっくりして、思わず椅子をずりよせながら、よくよくその花を眺めましたが、確かにそれは今の今まで、テエブル掛けの中にあった花模様の一つに違いありません。が、ミスラ君がその花を私の鼻の先へ持って来ると、ちょうど麝香か何かのように重苦しい匂さえするのです。私はあまりの不思議さに、何度も感嘆の声を洩らしますと、ミスラ君はやはり微笑したまま、また無造作にその花をテエブル掛けの上へ落しました。勿論落すともとの通り花は織り出した模様になって、つまみ上げること所か、花びら一つ自由には動かせなくなってしまうのです。
Anh Misra giơ tay, vẽ trước mắt tôi đôi ba lần một hình gì như tam giác; rồi anh đưa tay xuống mặt bàn, nhón bổng một đóa hoa trong đám hoa văn dệt đỏ nơi viền khăn lên. Tôi giật mình, bất giác xích ghế lại gần, ngắm nghía kỹ đóa hoa — đúng là một trong những bông hoa văn vừa mới nãy còn nằm trong tấm khăn trải bàn, không sai được. Nhưng khi anh Misra đưa đóa hoa lại sát mũi tôi, nó còn tỏa ra một mùi hương nồng đậm như xạ hương gì đó nữa. Tôi kinh ngạc quá đỗi, buột miệng trầm trồ mấy lần liền; anh Misra vẫn chỉ mỉm cười, rồi thản nhiên thả đóa hoa xuống tấm khăn. Dĩ nhiên, vừa rơi xuống là đóa hoa trở lại thành hoa văn dệt như cũ — đừng nói nhón lên, đến một cánh hoa cũng không tài nào lay động được nữa.
「どうです。訳はないでしょう。今度は、このランプを御覧なさい。」ミスラ君はこう言いながら、ちょいとテエブルの上のランプを置き直しましたが、その拍子にどういう訳か、ランプはまるで独楽のように、ぐるぐる廻り始めました。初の内は私も胆をつぶして、万一火事にでもなっては大変だと、何度もひやひやしましたが、ミスラ君は静に紅茶を飲みながら、一向騒ぐ容子もありません。黄いろい焔がたった一つ、瞬きもせずにともっているのは、何とも言えず美しい、不思議な見物だったのです。
“Sao? Có gì khó đâu. Giờ anh nhìn cây đèn này nhé.” Vừa nói anh Misra vừa khẽ đặt lại cây đèn trên bàn — và lạ chưa, chỉ chừng ấy thôi mà cây đèn bắt đầu quay tít như một con quay. Nó đứng yên nguyên một chỗ, lấy ống thông phong làm trục mà quay vù vù. Ban đầu tôi cũng hồn vía lên mây, thon thót lo nhỡ xảy ra hỏa hoạn thì khốn; nhưng anh Misra cứ điềm nhiên nhấp trà, chẳng mảy may nao núng. Ngọn lửa vàng duy nhất cháy im phăng phắc, không một lần chớp, giữa cây đèn đang quay — quả là một cảnh tượng kỳ diệu, đẹp không sao tả nổi.
「驚きましたか。こんなことはほんの子供瞞しですよ。」ミスラ君は後を振返って、壁側の書棚を眺めましたが、やがてその方へ手をさし伸ばして、招くように指を動かすと、今度は書棚に並んでいた書物が一冊ずつ動き出して、自然にテエブルの上まで飛んで来ました。そのまた飛び方が両方へ表紙を開いて、夏の夕方に飛び交う蝙蝠のように、ひらひらと宙へ舞上るのです。書物は一々行儀よくテエブルの上へピラミッド形に積み上りました。中でも一番面白かったのは、うすい仮綴じの書物が一冊、急に頁をざわつかせると、逆落しに私の膝へさっと下りて来たことです。手にとって見ると、これは私が一週間ばかり前にミスラ君へ貸した覚えがある、仏蘭西の新しい小説でした。「永々御本を難有う。」
“Anh kinh ngạc rồi à? Trò này chỉ là bịp trẻ con thôi.” Anh Misra ngoảnh lại nhìn giá sách kê sát tường, rồi vươn tay về phía ấy, ngoắc ngoắc ngón tay như vẫy gọi — lần này thì những cuốn sách xếp trên giá lần lượt từng cuốn động đậy, tự bay vèo đến tận mặt bàn. Mà kiểu bay mới lạ: chúng xòe bìa ra hai bên, chấp chới lượn lên không trung như đàn dơi chao liệng chiều hè. Từng cuốn sách ngoan ngoãn xếp chồng lên nhau thành hình kim tự tháp trên bàn. Thú vị nhất là một cuốn sách mỏng đóng tạm, bỗng loạt xoạt tung trang, rồi sà thẳng xuống đầu gối tôi. Cầm lên xem — hóa ra là cuốn tiểu thuyết mới của Pháp mà tôi nhớ đã cho anh Misra mượn chừng một tuần trước. “Cảm ơn anh đã cho mượn sách bấy lâu.”
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 魔術 | まじゅつ | ma thuật |
| 人力車 | じんりきしゃ | xe kéo tay |
| 秘法 | ひほう | bí pháp, phép bí truyền |
| 精霊 | せいれい | tinh linh |
| 催眠術 | さいみんじゅつ | thuật thôi miên |
| 感嘆 | かんたん | sự thán phục |
| 書棚 | しょだな | giá sách |
| 蝙蝠 | こうもり | con dơi |
私はさっきミスラ君の言った言葉を思い出しましたから、「ところで私のような人間にも、使って使えないことのないと言うのは、御冗談ではないのですか。」「使えますとも。誰にでも造作なく使えます。ただ――」と言いかけてミスラ君はじっと私の顔を眺めながら、いつになく真面目な口調になって、「ただ、欲のある人間には使えません。ハッサン・カンの魔術を習おうと思ったら、まず欲を捨てることです。あなたにはそれが出来ますか。」「出来るつもりです。」私はこう答えましたが、何となく不安な気もしたので、すぐにまた後から言葉を添えました。「魔術さえ教えて頂ければ。」やがてミスラ君は大様に頷きながら、「では教えて上げましょう。今夜は私の所へ御泊りなさい。」「どうもいろいろ恐れ入ります。」ミスラ君は静に椅子から立上ると、「御婆サン。御婆サン。今夜ハ御客様ガ御泊リニナルカラ、寝床ノ仕度ヲシテ置イテオクレ。」
Tôi nhớ lại câu anh Misra nói ban nãy, bèn hỏi: “Mà này, anh bảo người như tôi cũng dùng được ma thuật — không phải nói đùa đấy chứ?” — “Dùng được chứ. Ai cũng dùng được dễ dàng. Chỉ có điều—” anh Misra nhìn xoáy vào mặt tôi, giọng nghiêm trang khác hẳn thường ngày, “—chỉ có điều, người còn lòng tham thì không dùng được. Muốn học ma thuật của Hassan Khan, trước hết phải vứt bỏ lòng tham. Anh làm được không?” — “Tôi nghĩ là được.” Tôi đáp vậy, nhưng thấy trong dạ có gì bất an, nên vội nói thêm ngay: “Miễn là anh chịu dạy tôi ma thuật.” Rồi anh Misra gật đầu độ lượng: “Vậy tôi sẽ dạy. Nhưng dù dễ dùng đến đâu, học cũng cần thời gian — đêm nay anh ngủ lại chỗ tôi đi.” — “Ôi, thật phiền anh quá.” Anh Misra lặng lẽ đứng dậy khỏi ghế, gọi vọng ra: “BÀ ƠI! BÀ ƠI! ĐÊM NAY CÓ KHÁCH NGỦ LẠI, BÀ DỌN GIƯỜNG SẴN GIÙM TÔI NHÉ!”
× × ×
私がミスラ君に魔術を教わってから、一月ばかりたった後のことです。これもやはりざあざあ雨の降る晩でしたが、私は銀座のある倶楽部の一室で、五六人の友人と、暖炉の前へ陣取りながら、気軽な雑談に耽っていました。その内に一人の友人が、吸いさしの葉巻を暖炉の中に抛りこんで、私の方へ振り向きながら、「君は近頃魔術を使うという評判だが、どうだい。今夜は一つ僕たちの前で使って見せてくれないか。」「好いとも。」私は椅子の背に頭を靠せたまま、さも魔術の名人らしく、横柄にこう答えました。
Chuyện sau đó chừng một tháng kể từ khi tôi được anh Misra truyền dạy ma thuật. Cũng lại là một đêm mưa xối xả; tôi đang ngồi trong một căn phòng của câu lạc bộ nọ ở Ginza, cùng năm sáu người bạn quây quần trước lò sưởi, mải mê tán gẫu. Rồi một người bạn ném mẩu xì gà hút dở vào lò sưởi, quay sang tôi: “Dạo này nghe đồn cậu biết dùng ma thuật, thế nào? Tối nay biểu diễn cho bọn tớ xem một màn đi.” — “Được thôi.” Tôi ngả đầu lên lưng ghế, đáp bằng giọng ngạo nghễ ra dáng một bậc danh sư ma thuật.
私は徐に立ち上って、「よく見ていてくれ給えよ。僕の使う魔術には、種も仕掛もないのだから。」私はこう言いながら、両手のカフスをまくり上げて、暖炉の中に燃え盛っている石炭を、無造作に掌の上へすくい上げました。私はその掌の上の石炭の火を、しばらく一同の眼の前へつきつけてから、今度はそれを勢いよく寄木細工の床へ撒き散らしました。その途端です、まっ赤な石炭の火が、私の掌を離れると同時に、無数の美しい金貨になって、雨のように床の上へこぼれ飛んだからなのです。友人たちは皆夢でも見ているように、茫然と喝采するのさえも忘れていました。
Tôi thong thả đứng dậy: “Nhìn cho kỹ nhé. Ma thuật của tớ không mánh không máy móc gì đâu.” Vừa nói tôi vừa vén cả hai cổ tay áo, thản nhiên vốc đám than đá đang cháy rừng rực trong lò sưởi lên lòng bàn tay. Tôi giơ nắm lửa than trên lòng tay ấy dí trước mắt mọi người một lúc, rồi vung mạnh, rải tung xuống sàn gỗ ghép. Ngay khoảnh khắc ấy: những hòn than đỏ rực vừa rời khỏi lòng bàn tay tôi liền hóa thành vô số đồng tiền vàng lộng lẫy, rào rào đổ xuống sàn như một trận mưa. Đám bạn tôi ngẩn ngơ như đang nằm mơ, quên khuấy cả vỗ tay.
「こりゃ皆ほんとうの金貨かい。」「ほんとうの金貨さ。嘘だと思ったら、手にとって見給え。」給仕はすぐに言いつけられた通り、床の上の金貨を掃き集めて、堆く側のテエブルへ盛り上げました。「ざっと二十万円くらいはありそうだね。」「何しろ大した魔術を習ったものだ。石炭の火がすぐに金貨になるのだから。」などと、口々に私の魔術を褒めそやしました。が、私はやはり椅子によりかかったまま、悠然と葉巻の煙を吐いて、「いや、僕の魔術というやつは、一旦欲心を起したら、二度と使うことが出来ないのだ。だからこの金貨にしても、君たちが見てしまった上は、すぐにまた元の暖炉の中へ抛りこんでしまおうと思っている。」
“Toàn tiền vàng thật cả đấy à?” — “Vàng thật chứ. Không tin thì cầm lên mà xem.” Người hầu bàn theo lệnh quét gom hết chỗ tiền vàng trên sàn, vun thành đống cao ngất trên chiếc bàn bên cạnh. “Ước chừng phải đến hai mươi vạn yên ấy nhỉ.” — “Quả là học được thứ ma thuật ghê gớm. Lửa than mà hóa ngay ra tiền vàng cơ mà!” — ai nấy tấm tắc khen nức nở. Nhưng tôi vẫn tựa lưng ghế, ung dung nhả khói xì gà: “Không đâu. Cái ma thuật của tớ ấy à, hễ một lần nổi lòng tham là vĩnh viễn không dùng được nữa. Cho nên đống tiền vàng này, các cậu xem xong rồi thì tớ định ném trả lại vào lò sưởi ngay bây giờ đây.”
友人たちは反対し始めました。すると、その中でも一番狡猾だという評判のあるのが、鼻の先で、せせら笑いながら、「この金貨を元手にして、君が僕たちと骨牌をするのだ。もし君が勝ったなら、自由に君が始末するが好い。が、もし僕たちが勝ったなら、金貨のまま僕たちへ渡し給え。」それでも私はまだ首を振っていました。所がその友人は、いよいよ嘲るような笑を浮べながら、「君が僕たちと骨牌をしないのは、つまりその金貨を僕たちに取られたくないと思うからだろう。それなら欲心を捨てたとか何とかいう、折角の君の決心も怪しくなってくる訳じゃないか。」何度もこういう押問答を繰返した後で、とうとう私はどうしても骨牌を闘わせなければならない羽目に立ち至りました。
Đám bạn nhao nhao phản đối — ném ngần này tiền trở lại thành than thì phí của giời. Trong đám ấy, kẻ nổi tiếng ranh ma nhất khịt mũi cười khẩy: “Vậy thế này: lấy đống tiền vàng này làm vốn, cậu đánh bài với bọn tớ. Cậu thắng thì muốn xử lý sao tùy ý. Còn nếu bọn tớ thắng, thì cứ nguyên tiền vàng mà giao ra.” Tôi vẫn lắc đầu. Nhưng gã bạn ấy càng cười nhạo tợn: “Cậu không dám đánh bài với bọn tớ, tức là sợ mất đống tiền vàng ấy vào tay bọn tớ chứ gì. Thế thì cái quyết tâm ‘vứt bỏ lòng tham’ gì gì của cậu cũng đáng ngờ lắm nhỉ.” Đôi co qua lại mãi mấy bận như thế, rốt cuộc tôi lâm vào thế chẳng đừng được, phải ngồi vào sòng bài.
が、どういうものか、その夜に限って、ふだんは格別骨牌上手でもない私が、嘘のようにどんどん勝つのです。始は気のりもしなかったのが、だんだん面白くなり始めて、ものの十分とたたない内に、いつか私は一切を忘れて、熱心に骨牌を引き始めました。友人たちが躍起となっても、私は一度も負けないばかりか、とうとうしまいには、あの金貨とほぼ同じほどの金高だけ、私の方が勝ってしまったじゃありませんか。するとさっきの人の悪い友人が、まるで気違いのような勢いで、私の前に、札をつきつけながら、「さあ、引き給え。僕は僕の財産をすっかり賭ける。地面も、家作も、馬も、自働車も、一つ残らず賭けてしまう。その代り君はあの金貨のほかに、今まで君が勝った金をことごとく賭けるのだ。さあ、引き給え。」
Nhưng lạ thay, riêng đêm ấy, tôi — kẻ thường ngày chẳng cao tay bài bạc gì — cứ thắng liên hồi như bịa. Ban đầu còn hững hờ, dần dần lại thấy ham; chưa đầy mười phút, tôi đã quên tuốt tuột mọi thứ, hăm hở rút bài lúc nào không hay. Đám bạn càng cay cú sấn sổ bao nhiêu, tôi chẳng những không thua ván nào, mà cuối cùng còn thắng thêm một khoản tiền gần bằng cả đống tiền vàng kia nữa. Bấy giờ gã bạn xấu tính lúc nãy, hung hăng như kẻ mất trí, dí xấp bài vào trước mặt tôi: “Nào, rút đi! Tao cược toàn bộ gia sản: đất đai, nhà cửa, ngựa, xe hơi — không sót một thứ. Đổi lại, mày phải cược đống tiền vàng kia cộng tất tật số tiền mày vừa thắng. Nào, rút đi!”
私はこの刹那に欲が出ました。この勝負に勝ちさえすれば、私は向うの全財産を一度に手へ入れることが出来るのです。こんな時に使わなければどこに魔術などを教わった、苦心の甲斐があるのでしょう。そう思うと私は矢も楯もたまらなくなって、そっと魔術を使いながら、「よろしい。まず君から引き給え。」「九。」「王様。」私は勝ち誇った声を挙げながら、まっ蒼になった相手の眼の前へ、引き当てた札を出して見せました。すると不思議にもその骨牌の王様が、まるで魂がはいったように、冠をかぶった頭を擡げて、ひょいと札の外へ体を出すと、行儀よく剣を持ったまま、にやりと気味の悪い微笑を浮べて、「御婆サン。御婆サン。御客様ハ御帰リニナルソウダカラ、寝床ノ仕度ハシナクテモ好イヨ。」と、聞き覚えのある声で言うのです。
Đúng khoảnh khắc ấy, lòng tham trong tôi trỗi dậy. Chỉ cần thắng ván này, toàn bộ gia sản của đối phương sẽ vào tay tôi trong một nước. Không dùng ma thuật lúc này thì còn khổ công học nó để làm gì nữa? Nghĩ vậy, tôi không kìm nổi, len lén thi triển ma thuật: “Được lắm. Cậu rút trước đi.” — “Chín!” — “Vua!” Tôi reo lên đắc thắng, chìa lá bài rút trúng ra trước cặp mắt của gã đối thủ đã tái mét. Thế nhưng, kỳ quái thay — vị Vua trên lá bài ấy bỗng như được thổi hồn vào, ngóc cái đầu đội vương miện dậy, thoắt cái vươn cả thân mình ra khỏi lá bài; rồi vẫn nghiêm chỉnh cầm thanh kiếm, nhoẻn một nụ cười rờn rợn, cất giọng — cái giọng nghe quen lắm: “BÀ ƠI, BÀ ƠI. NGHE BẢO KHÁCH SẮP VỀ RỒI, KHÔNG CẦN DỌN GIƯỜNG NỮA ĐÂU NHÉ!”
ふと気がついてあたりを見廻すと、私はまだうす暗い石油ランプの光を浴びながら、まるであの骨牌の王様のような微笑を浮べているミスラ君と、向い合って坐っていたのです。私が指の間に挟んだ葉巻の灰さえ、やはり落ちずにたまっている所を見ても、私が一月ばかりたったと思ったのは、ほんの二三分の間に見た、夢だったのに違いありません。けれどもその二三分の短い間に、私がハッサン・カンの魔術の秘法を習う資格のない人間だということは、私自身にもミスラ君にも、明かになってしまったのです。私は恥しそうに頭を下げたまま、しばらくは口もきけませんでした。
Sực tỉnh nhìn quanh — tôi vẫn đang ngồi đó, tắm trong ánh đèn dầu lù mù, đối diện với anh Misra đang nở nụ cười y hệt vị Vua trên lá bài kia. Nhìn cả tàn xì gà kẹp giữa ngón tay tôi vẫn chưa rơi, còn đọng nguyên đấy, đủ biết: cái quãng thời gian mà tôi ngỡ là một tháng ấy chẳng qua là giấc mơ tôi đã thấy trong vẻn vẹn đôi ba phút. Nhưng trong đôi ba phút ngắn ngủi đó, chuyện tôi là kẻ không đủ tư cách học bí pháp ma thuật của Hassan Khan đã trở nên rõ rành rành — với cả chính tôi lẫn anh Misra. Tôi xấu hổ cúi gằm mặt, hồi lâu không thốt nổi một lời.
「私の魔術を使おうと思ったら、まず欲を捨てなければなりません。あなたはそれだけの修業が出来ていないのです。」ミスラ君は気の毒そうな眼つきをしながら、縁へ赤く花模様を織り出したテエブル掛けの上に肘をついて、静にこう私をたしなめました。
“Muốn dùng ma thuật của tôi thì trước hết phải vứt bỏ lòng tham. Anh chưa tu dưỡng được đến mức ấy.” Anh Misra nhìn tôi bằng ánh mắt ái ngại, chống khuỷu tay lên tấm khăn trải bàn dệt hoa văn đỏ viền quanh mép, khẽ khàng răn tôi như vậy.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 欲 | よく | lòng tham, dục vọng |
| 暖炉 | だんろ | lò sưởi |
| 石炭 | せきたん | than đá |
| 金貨 | きんか | tiền vàng |
| 賭ける | かける | đánh cược |
| 財産 | ざいさん | tài sản, gia sản |
| 狡猾 | こうかつ | xảo quyệt, ranh ma |
| 刹那 | せつな | sát-na, khoảnh khắc |
| 資格 | しかく | tư cách |
| 修業 | しゅぎょう | sự tu luyện, rèn giũa |
Nguồn văn bản gốc: 芥川龍之介「魔術」(1919) — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「芥川龍之介全集3」ちくま文庫、筑摩書房。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.
📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.
Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.





Gửi phản hồi