Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.
太宰治 (Dazai Osamu) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng
メロスは激怒した。必ず、かの邪智暴虐の王を除かなければならぬと決意した。メロスには政治がわからぬ。メロスは、村の牧人である。笛を吹き、羊と遊んで暮して来た。けれども邪悪に対しては、人一倍に敏感であった。
Melos nổi trận lôi đình. Chàng quyết chí: nhất định phải trừ khử tên vua gian trá bạo tàn kia. Melos chẳng hiểu gì chính trị. Chàng chỉ là một gã chăn cừu trong làng, sống bằng nghề thổi sáo và rong chơi cùng bầy cừu. Nhưng trước cái ác, chàng nhạy cảm gấp bội người thường.
きょう未明メロスは村を出発し、野を越え山越え、十里はなれた此のシラクスの市にやって来た。メロスには父も、母も無い。女房も無い。十六の、内気な妹と二人暮しだ。この妹は、村の或る律気な一牧人を、近々、花婿として迎える事になっていた。結婚式も間近かなのである。メロスは、それゆえ、花嫁の衣裳やら祝宴の御馳走やらを買いに、はるばる市にやって来たのだ。先ず、その品々を買い集め、それから都の大路をぶらぶら歩いた。メロスには竹馬の友があった。セリヌンティウスである。今は此のシラクスの市で、石工をしている。その友を、これから訪ねてみるつもりなのだ。久しく逢わなかったのだから、訪ねて行くのが楽しみである。
Sáng sớm tinh mơ hôm nay, Melos rời làng, băng đồng vượt núi, đến thành Syracuse cách mười dặm đường. Melos không cha, không mẹ, cũng chẳng vợ con. Chàng sống cùng cô em gái mười sáu tuổi tính tình nhút nhát. Cô em ấy sắp sửa đón một chàng chăn cừu hiền lành đứng đắn trong làng về làm chồng; hôn lễ đã cận kề. Bởi thế Melos mới lặn lội ra thành mua áo cưới cho cô dâu và các món cho tiệc cưới. Mua sắm xong xuôi, chàng thong dong dạo bước trên đại lộ kinh thành. Melos có một người bạn nối khố tên Selinuntius, hiện làm thợ đá ở thành Syracuse này. Chàng định lát nữa ghé thăm bạn. Lâu lắm rồi không gặp, nên chàng háo hức lắm.
歩いているうちにメロスは、まちの様子を怪しく思った。ひっそりしている。もう既に日も落ちて、まちの暗いのは当りまえだが、けれども、なんだか、夜のせいばかりでは無く、市全体が、やけに寂しい。のんきなメロスも、だんだん不安になって来た。路で逢った若い衆をつかまえて、何かあったのか、二年まえに此の市に来たときは、夜でも皆が歌をうたって、まちは賑やかであった筈だが、と質問した。若い衆は、首を振って答えなかった。しばらく歩いて老爺に逢い、こんどはもっと、語勢を強くして質問した。老爺は答えなかった。メロスは両手で老爺のからだをゆすぶって質問を重ねた。老爺は、あたりをはばかる低声で、わずか答えた。「王様は、人を殺します。」「なぜ殺すのだ。」「悪心を抱いている、というのですが、誰もそんな、悪心を持っては居りませぬ。」「たくさんの人を殺したのか。」「はい、はじめは王様の妹婿さまを。それから、御自身のお世嗣を。それから、妹さまを。それから、妹さまの御子さまを。それから、皇后さまを。それから、賢臣のアレキス様を。」「おどろいた。国王は乱心か。」「いいえ、乱心ではございませぬ。人を、信ずる事が出来ぬ、というのです。このごろは、臣下の心をも、お疑いになり、少しく派手な暮しをしている者には、人質ひとりずつ差し出すことを命じて居ります。御命令を拒めば十字架にかけられて、殺されます。きょうは、六人殺されました。」
Đi được một lát, Melos thấy quang cảnh phố xá có gì đó khả nghi. Vắng lặng quá. Mặt trời đã lặn, phố tối là chuyện thường, nhưng cái vẻ hiu quạnh bao trùm cả thành phố này hình như không chỉ vì trời đêm. Ngay cả Melos vô tư cũng dần thấy bất an. Chàng níu một người trai trẻ gặp trên đường lại hỏi: có chuyện gì xảy ra vậy, hai năm trước tôi đến thành này, ban đêm ai nấy còn ca hát, phố xá tưng bừng lắm kia mà? Người trai trẻ chỉ lắc đầu không đáp. Đi thêm một quãng gặp một cụ già, lần này chàng gặng hỏi gắt hơn. Cụ già không trả lời. Melos túm hai vai cụ lắc mạnh, hỏi dồn. Cụ già dè chừng nhìn quanh, khẽ đáp: “Đức vua… giết người.” — “Vì sao lại giết?” — “Bảo là mang lòng phản trắc. Nhưng nào ai có lòng dạ ấy đâu.” — “Ngài đã giết nhiều người rồi sao?” — “Vâng. Đầu tiên là em rể của đức vua. Rồi đến thái tử của chính ngài. Rồi hoàng muội. Rồi con của hoàng muội. Rồi hoàng hậu. Rồi cả hiền thần Alexis nữa.” — “Kinh khủng. Nhà vua điên loạn rồi chăng?” — “Không, không phải điên loạn. Người ta bảo ngài không còn tin nổi con người nữa. Dạo này ngài nghi ngờ cả lòng dạ bề tôi; nhà ai ăn ở hơi khấm khá là bị lệnh phải nộp một người làm con tin. Kháng lệnh thì bị đóng lên thập giá xử tử. Hôm nay đã có sáu người bị giết rồi.”
聞いて、メロスは激怒した。「呆れた王だ。生かして置けぬ。」メロスは、単純な男であった。買い物を、背負ったままで、のそのそ王城にはいって行った。たちまち彼は、巡邏の警吏に捕縛された。調べられて、メロスの懐中からは短剣が出て来たので、騒ぎが大きくなってしまった。メロスは、王の前に引き出された。
Nghe xong, Melos nổi trận lôi đình. “Đúng là hôn quân. Không thể để nó sống!” Melos vốn là người đơn giản. Vẫn cõng nguyên đống đồ mua sắm trên lưng, chàng lù lù đi thẳng vào hoàng thành. Lập tức chàng bị lính tuần bắt giữ. Khám người, thấy trong áo Melos có con dao găm, sự việc càng ầm ĩ. Melos bị điệu ra trước mặt vua.
「この短刀で何をするつもりであったか。言え!」暴君ディオニスは静かに、けれども威厳を以て問いつめた。その王の顔は蒼白で、眉間の皺は、刻み込まれたように深かった。「市を暴君の手から救うのだ。」とメロスは悪びれずに答えた。「おまえがか?」王は、憫笑した。「仕方の無いやつじゃ。おまえには、わしの孤独がわからぬ。」「言うな!」とメロスは、いきり立って反駁した。「人の心を疑うのは、最も恥ずべき悪徳だ。王は、民の忠誠をさえ疑って居られる。」「疑うのが、正当の心構えなのだと、わしに教えてくれたのは、おまえたちだ。人の心は、あてにならない。人間は、もともと私慾のかたまりさ。信じては、ならぬ。」暴君は落着いて呟き、ほっと溜息をついた。「わしだって、平和を望んでいるのだが。」
“Ngươi định làm gì với con dao này? Nói!” Bạo chúa Dionys tra hỏi, giọng bình thản mà đầy uy quyền. Gương mặt nhà vua trắng bệch, nếp nhăn giữa hai hàng mày hằn sâu như khắc. “Ta định cứu thành này khỏi tay bạo chúa,” Melos đáp, không chút nao núng. “Ngươi ư?” — vua cười khinh miệt. “Đồ vô phương cứu chữa. Ngươi làm sao hiểu nổi nỗi cô độc của ta.” — “Đừng nói nữa!” Melos sôi máu cãi lại. “Nghi ngờ lòng người là thói xấu đáng hổ thẹn nhất. Nhà vua lại đi ngờ vực cả lòng trung của thần dân!” — “Chính lũ các ngươi đã dạy ta rằng nghi ngờ mới là thái độ đúng đắn. Lòng người không thể trông cậy. Con người vốn dĩ là một khối tư dục. Không thể tin được.” Bạo chúa lẩm bẩm điềm nhiên, rồi khẽ buông một tiếng thở dài. “Ta đây cũng mong hòa bình lắm chứ.”
「なんの為の平和だ。自分の地位を守る為か。」こんどはメロスが嘲笑した。「罪の無い人を殺して、何が平和だ。」「だまれ、下賤の者。」王は、さっと顔を挙げて報いた。「口では、どんな清らかな事でも言える。わしには、人の腹綿の奥底が見え透いてならぬ。おまえだって、いまに、磔になってから、泣いて詫びたって聞かぬぞ。」「ああ、王は悧巧だ。自惚れているがよい。私は、ちゃんと死ぬる覚悟で居るのに。命乞いなど決してしない。ただ、――」と言いかけて、メロスは足もとに視線を落し瞬時ためらい、「ただ、私に情をかけたいつもりなら、処刑までに三日間の日限を与えて下さい。たった一人の妹に、亭主を持たせてやりたいのです。三日のうちに、私は村で結婚式を挙げさせ、必ず、ここへ帰って来ます。」
“Hòa bình để làm gì? Để giữ cái ngai của ngươi chắc?” — lần này đến lượt Melos cười nhạo. “Giết người vô tội mà đòi hòa bình cái gì!” — “Câm mồm, quân hạ tiện!” vua ngẩng phắt mặt lên đáp trả. “Miệng lưỡi thì nói gì thanh cao chẳng được. Còn ta, ta nhìn thấu tận đáy ruột gan con người. Cả ngươi nữa, đợi lúc bị đóng lên thập giá rồi có khóc lóc van xin ta cũng chẳng nghe đâu.” — “Chao ôi, đức vua khôn ngoan thật. Cứ việc tự đắc đi. Ta đã sẵn sàng chết. Quyết không van xin tha mạng. Chỉ có điều—” Melos ngập ngừng, cụp mắt nhìn xuống chân trong thoáng chốc, “—chỉ xin, nếu ngài còn chút lòng thương, hãy cho ta ba ngày trước khi hành hình. Ta muốn lo cho đứa em gái duy nhất một tấm chồng. Trong ba ngày ấy, ta sẽ về làng cho chúng làm lễ cưới, rồi nhất định quay lại đây.”
「ばかな。」と暴君は、嗄れた声で低く笑った。「とんでもない嘘を言うわい。逃がした小鳥が帰って来るというのか。」「そうです。帰って来るのです。」メロスは必死で言い張った。「私は約束を守ります。私を、三日間だけ許して下さい。妹が、私の帰りを待っているのだ。そんなに私を信じられないならば、よろしい、この市にセリヌンティウスという石工がいます。私の無二の友人だ。あれを、人質としてここに置いて行こう。私が逃げてしまって、三日目の日暮まで、ここに帰って来なかったら、あの友人を絞め殺して下さい。たのむ、そうして下さい。」
“Ngu xuẩn,” bạo chúa cười khàn giọng. “Nói láo không biết ngượng. Con chim đã sổ lồng mà đòi bay về ư?” — “Đúng vậy. Sẽ quay về.” Melos khăng khăng đến cùng. “Ta giữ lời hứa. Chỉ xin tha cho ta đúng ba ngày. Em gái ta đang đợi ta về. Nếu ngài không tin ta đến vậy thì được — trong thành này có người thợ đá tên Selinuntius, bạn chí cốt có một không hai của ta. Ta sẽ để anh ấy ở lại đây làm con tin. Nếu ta trốn biệt, đến hoàng hôn ngày thứ ba mà không quay lại, ngài cứ thắt cổ người bạn ấy. Xin ngài, hãy làm như thế.”
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 激怒 | げきど | nổi trận lôi đình |
| 暴君 | ぼうくん | bạo chúa |
| 人質 | ひとじち | con tin |
| 疑う | うたがう | nghi ngờ |
| 覚悟 | かくご | sự sẵn sàng đón nhận (cái chết…) |
| 命乞い | いのちごい | van xin tha mạng |
| 処刑 | しょけい | hành hình |
| 約束を守る | やくそくをまもる | giữ lời hứa |
| 磔 | はりつけ | hình phạt đóng lên thập giá |
それを聞いて王は、残虐な気持で、そっと北叟笑んだ。生意気なことを言うわい。どうせ帰って来ないにきまっている。この嘘つきに騙された振りして、放してやるのも面白い。そうして身代りの男を、三日目に殺してやるのも気味がいい。人は、これだから信じられぬと、わしは悲しい顔して、その身代りの男を磔刑に処してやるのだ。世の中の、正直者とかいう奴輩にうんと見せつけてやりたいものさ。「願いを、聞いた。その身代りを呼ぶがよい。三日目には日没までに帰って来い。おくれたら、その身代りを、きっと殺すぞ。ちょっとおくれて来るがいい。おまえの罪は、永遠にゆるしてやろうぞ。」「なに、何をおっしゃる。」「はは。いのちが大事だったら、おくれて来い。おまえの心は、わかっているぞ。」メロスは口惜しく、地団駄踏んだ。ものも言いたくなくなった。
Nghe vậy, nhà vua thầm đắc ý một cách tàn nhẫn. Ăn nói ngông cuồng gớm. Đằng nào nó cũng chẳng quay lại. Giả vờ bị thằng dối trá này lừa mà thả nó ra, kể cũng hay. Rồi đến ngày thứ ba đem thằng thế mạng ra giết, càng khoái. Ta sẽ làm bộ mặt buồn rầu mà xử giảo thằng thế mạng ấy, rằng: đấy, con người là thế, không tin được đâu. Phải cho cái lũ tự xưng “người chính trực” trên đời này sáng mắt ra. “Ta chuẩn y lời thỉnh cầu. Gọi kẻ thế mạng ấy đến đi. Ngày thứ ba, phải về trước khi mặt trời lặn. Trễ hẹn, kẻ thế mạng chắc chắn bị giết. Mà ngươi cứ trễ một chút cũng hay. Tội của ngươi, ta sẽ vĩnh viễn xá cho.” — “Gì… ngài nói gì vậy!” — “Ha ha. Nếu tiếc mạng thì cứ về trễ. Lòng dạ ngươi, ta rõ cả rồi.” Melos uất đến giậm chân bành bạch. Chàng không buồn nói thêm lời nào nữa.
竹馬の友、セリヌンティウスは、深夜、王城に召された。暴君ディオニスの面前で、佳き友と佳き友は、二年ぶりで相逢うた。メロスは、友に一切の事情を語った。セリヌンティウスは無言で首肯き、メロスをひしと抱きしめた。友と友の間は、それでよかった。セリヌンティウスは、縄打たれた。メロスは、すぐに出発した。初夏、満天の星である。
Người bạn nối khố Selinuntius bị triệu vào hoàng thành lúc nửa đêm. Trước mặt bạo chúa Dionys, đôi bạn hiền gặp lại nhau sau hai năm xa cách. Melos kể cho bạn nghe hết đầu đuôi. Selinuntius lặng lẽ gật đầu, ôm chặt lấy Melos. Giữa bạn với bạn, thế là đủ. Selinuntius bị trói lại. Melos lập tức lên đường. Đầu hạ, trời đầy sao.
メロスはその夜、一睡もせず十里の路を急ぎに急いで、村へ到着したのは、翌る日の午前、陽は既に高く昇って、村人たちは野に出て仕事をはじめていた。メロスの十六の妹も、きょうは兄の代りに羊群の番をしていた。よろめいて歩いて来る兄の、疲労困憊の姿を見つけて驚いた。そうして、うるさく兄に質問を浴びせた。「なんでも無い。」メロスは無理に笑おうと努めた。「市に用事を残して来た。またすぐ市に行かなければならぬ。あす、おまえの結婚式を挙げる。早いほうがよかろう。」妹は頬をあからめた。「うれしいか。綺麗な衣裳も買って来た。さあ、これから行って、村の人たちに知らせて来い。結婚式は、あすだと。」
Đêm ấy Melos không chợp mắt lấy một giây, cắm cúi rảo bước hết mười dặm đường; về đến làng thì đã sáng hôm sau, mặt trời lên cao, dân làng đã ra đồng làm lụng. Cô em gái mười sáu tuổi hôm nay thay anh trông bầy cừu. Thấy dáng anh trai loạng choạng lê về, mệt lử tơi tả, cô hoảng hốt, dồn dập hỏi han. “Không có gì đâu,” Melos gắng gượng cười. “Anh còn để dở việc ngoài thành, lát phải đi ngay. Ngày mai làm lễ cưới cho em. Sớm chừng nào tốt chừng ấy.” Cô em đỏ ửng má. “Vui không? Anh mua cả áo cưới đẹp về rồi đây. Nào, đi báo cho dân làng đi: lễ cưới là ngày mai.”
メロスは、また、よろよろと歩き出し、家へ帰って神々の祭壇を飾り、祝宴の席を調え、間もなく床に倒れ伏し、呼吸もせぬくらいの深い眠りに落ちてしまった。眼が覚めたのは夜だった。メロスは起きてすぐ、花婿の家を訪れた。そうして、少し事情があるから、結婚式を明日にしてくれ、と頼んだ。婿の牧人は驚き、それはいけない、こちらには未だ何の仕度も出来ていない、葡萄の季節まで待ってくれ、と答えた。メロスは、待つことは出来ぬ、どうか明日にしてくれ給え、と更に押してたのんだ。婿の牧人も頑強であった。なかなか承諾してくれない。夜明けまで議論をつづけて、やっと、どうにか婿をなだめ、すかして、説き伏せた。
Melos lại loạng choạng cất bước, về nhà trang hoàng bàn thờ các vị thần, sửa soạn chỗ bày tiệc cưới, rồi chẳng mấy chốc đổ vật xuống sàn, chìm vào giấc ngủ sâu đến tưởng như ngừng thở. Tỉnh dậy thì trời đã tối. Melos dậy là đến ngay nhà chú rể, nhờ vả: vì có chút việc riêng, hãy cho làm lễ cưới vào ngày mai. Chàng rể chăn cừu hoảng hốt: thế thì không được, bên này chưa chuẩn bị được gì cả, xin đợi đến mùa nho. Melos ép tới: không đợi được, xin anh, cứ cho ngày mai đi. Chàng rể cũng cứng đầu chẳng kém, mãi không chịu ưng. Hai bên tranh cãi đến tận rạng sáng, cuối cùng Melos mới dỗ dành, nài nỉ, thuyết phục được chú rể xuôi lòng.
結婚式は、真昼に行われた。新郎新婦の、神々への宣誓が済んだころ、黒雲が空を覆い、ぽつりぽつり雨が降り出し、やがて車軸を流すような大雨となった。祝宴に列席していた村人たちは、何か不吉なものを感じたが、それでも、めいめい気持を引きたて、狭い家の中で、むんむん蒸し暑いのも怺え、陽気に歌をうたい、手を拍った。メロスも、満面に喜色を湛え、しばらくは、王とのあの約束をさえ忘れていた。祝宴は、夜に入っていよいよ乱れ華やかになり、人々は、外の豪雨を全く気にしなくなった。メロスは、一生このままここにいたい、と思った。この佳い人たちと生涯暮して行きたいと願ったが、いまは、自分のからだで、自分のものでは無い。ままならぬ事である。メロスは、わが身に鞭打ち、ついに出発を決意した。あすの日没までには、まだ十分の時が在る。ちょっと一眠りして、それからすぐに出発しよう、と考えた。
Lễ cưới cử hành giữa trưa. Khi cô dâu chú rể vừa tuyên thệ trước các vị thần xong, mây đen kéo kín trời, mưa bắt đầu lộp độp, rồi chẳng mấy chốc thành trận mưa như trút nước. Dân làng dự tiệc cảm thấy có gì đó chẳng lành, nhưng ai nấy vẫn tự vực tinh thần, chịu cái nóng hầm hập trong căn nhà chật, hát hò vỗ tay rôm rả. Melos cũng mặt mày rạng rỡ, trong chốc lát quên cả lời hẹn với nhà vua. Tiệc về đêm càng tưng bừng náo nhiệt, chẳng ai buồn để ý trận mưa lớn ngoài kia nữa. Melos thầm ước được ở lại đây như thế này trọn đời, sống mãi bên những con người hiền hậu này — nhưng lúc này, tấm thân chàng không còn thuộc về chàng nữa. Muốn cũng chẳng được. Melos tự quất roi vào mình, cuối cùng quyết chí lên đường. Đến hoàng hôn ngày mai vẫn còn khối thời gian. Chàng tính: hãy chợp mắt một lát, rồi đi ngay.
眼が覚めたのは翌る日の薄明の頃である。メロスは跳ね起き、南無三、寝過したか、いや、まだまだ大丈夫、これからすぐに出発すれば、約束の刻限までには十分間に合う。きょうは是非とも、あの王に、人の信実の存するところを見せてやろう。そうして笑って磔の台に上ってやる。メロスは、悠々と身仕度をはじめた。雨も、いくぶん小降りになっている様子である。身仕度は出来た。さて、メロスは、ぶるんと両腕を大きく振って、雨中、矢の如く走り出た。
Chàng tỉnh dậy vào lúc tờ mờ sáng hôm sau. Melos bật dậy — trời đất, ngủ quên rồi sao? Không, vẫn còn kịp chán. Xuất phát ngay bây giờ thì vẫn dư sức về trước giờ hẹn. Hôm nay nhất định phải cho tên vua kia thấy lòng thành tín của con người là có thật. Rồi cứ thế mỉm cười mà bước lên đài hành hình. Melos ung dung sửa soạn. Mưa xem chừng cũng đã ngớt phần nào. Sửa soạn xong xuôi, Melos vung mạnh hai cánh tay, lao vút vào màn mưa như một mũi tên.
私は、今宵、殺される。殺される為に走るのだ。身代りの友を救う為に走るのだ。王の奸佞邪智を打ち破る為に走るのだ。走らなければならぬ。そうして、私は殺される。若い時から名誉を守れ。さらば、ふるさと。若いメロスは、つらかった。幾度か、立ちどまりそうになった。えい、えいと大声挙げて自身を叱りながら走った。村を出て、野を横切り、森をくぐり抜け、隣村に着いた頃には、雨も止み、日は高く昇って、そろそろ暑くなって来た。
Đêm nay, ta sẽ bị giết. Ta chạy là để bị giết. Ta chạy để cứu người bạn đang thế mạng. Ta chạy để đập tan lòng gian trá xảo quyệt của nhà vua. Phải chạy. Rồi ta sẽ bị giết. Hãy giữ lấy danh dự từ thuở thiếu thời. Vĩnh biệt, quê hương! Chàng Melos trẻ tuổi đau đớn lắm. Mấy lần chàng suýt dừng chân. Chàng vừa chạy vừa hét lớn “Ây! Ây!” tự quát mắng chính mình. Ra khỏi làng, băng qua đồng, luồn qua rừng; đến làng bên thì mưa đã tạnh, mặt trời lên cao, trời bắt đầu oi.
ぶらぶら歩いて二里行き三里行き、そろそろ全里程の半ばに到達した頃、降って湧いた災難、メロスの足は、はたと、とまった。見よ、前方の川を。きのうの豪雨で山の水源地は氾濫し、濁流滔々と下流に集り、猛勢一挙に橋を破壊し、どうどうと響きをあげる激流が、木葉微塵に橋桁を跳ね飛ばしていた。彼は茫然と、立ちすくんだ。メロスは川岸にうずくまり、男泣きに泣きながらゼウスに手を挙げて哀願した。「ああ、鎮めたまえ、荒れ狂う流れを! 時は刻々に過ぎて行きます。太陽も既に真昼時です。あれが沈んでしまわぬうちに、王城に行き着くことが出来なかったら、あの佳い友達が、私のために死ぬのです。」
Chàng thong thả đi hai dặm, ba dặm; đến khi sắp được nửa quãng đường thì tai họa từ trên trời rơi xuống — chân Melos khựng phắt lại. Hãy nhìn dòng sông phía trước kia! Trận mưa lớn hôm qua khiến đầu nguồn trên núi vỡ tràn, dòng nước đục cuồn cuộn dồn về hạ lưu, hung hãn quật sập cây cầu trong một đòn; dòng lũ gầm réo ầm ầm đã hất tung xà cầu vỡ vụn thành trăm mảnh. Chàng chết lặng, đứng như trời trồng. Melos sụp xuống bên bờ sông, khóc rống lên như một người đàn ông chỉ biết khóc, giơ tay lên trời van nài thần Zeus: “Hỡi thần, xin dẹp yên dòng nước điên cuồng này! Thời gian đang trôi từng khắc. Mặt trời đã đứng bóng. Nếu con không tới được hoàng thành trước khi mặt trời kia lặn, người bạn hiền của con sẽ phải chết vì con!”
濁流は、メロスの叫びをせせら笑う如く、ますます激しく躍り狂う。浪は浪を呑み、捲き、煽り立て、そうして時は、刻一刻と消えて行く。今はメロスも覚悟した。泳ぎ切るより他に無い。ああ、神々も照覧あれ! 濁流にも負けぬ愛と誠の偉大な力を、いまこそ発揮して見せる。メロスは、ざんぶと流れに飛び込み、百匹の大蛇のようにのた打ち荒れ狂う浪を相手に、必死の闘争を開始した。満身の力を腕にこめて、押し寄せ渦巻き引きずる流れを、なんのこれしきと掻きわけ掻きわけ、めくらめっぽう獅子奮迅の人の子の姿には、神も哀れと思ったか、ついに憐愍を垂れてくれた。押し流されつつも、見事、対岸の樹木の幹に、すがりつく事が出来たのである。ありがたい。メロスは馬のように大きな胴震いを一つして、すぐにまた先きを急いだ。一刻といえども、むだには出来ない。陽は既に西に傾きかけている。
Dòng nước đục như cười khẩy trước tiếng gào của Melos, càng lồng lộn dữ dội hơn. Sóng nuốt sóng, cuộn xoáy, chồm lên; còn thời gian thì cứ từng khắc từng khắc tan biến. Giờ thì Melos cũng đã quyết: chỉ còn cách bơi qua. Hỡi các vị thần, hãy chứng giám! Sức mạnh vĩ đại của tình yêu và lòng thành không thua dòng nước lũ — chính lúc này ta sẽ phô bày cho mà xem. Melos lao ùm xuống dòng nước, mở màn trận tử chiến với những con sóng đang quằn quại điên cuồng như trăm con mãng xà. Chàng dồn toàn lực vào đôi tay, rẽ sóng mà bơi, gạt phăng dòng nước xô đẩy, cuộn xoáy, kéo ghì — “thứ này đã là gì!” Trước hình ảnh người con của loài người liều mình xông pha như sư tử ấy, có lẽ thần linh cũng động lòng thương, rốt cuộc đã rủ lòng trắc ẩn: dù bị cuốn trôi, chàng vẫn bám được ngoạn mục vào thân cây bên bờ đối diện. Đội ơn trời! Melos rùng mình một cái thật mạnh như con ngựa giũ nước, rồi lập tức tiếp tục rảo bước. Không thể phí hoài lấy một khắc. Mặt trời đã ngả về tây.
ぜいぜい荒い呼吸をしながら峠をのぼり、のぼり切って、ほっとした時、突然、目の前に一隊の山賊が躍り出た。「待て。」「何をするのだ。私は陽の沈まぬうちに王城へ行かなければならぬ。放せ。」「どっこい放さぬ。持ちもの全部を置いて行け。」「私にはいのちの他には何も無い。その、たった一つの命も、これから王にくれてやるのだ。」「その、いのちが欲しいのだ。」「さては、王の命令で、ここで私を待ち伏せしていたのだな。」山賊たちは、ものも言わず一斉に棍棒を振り挙げた。メロスはひょいと、からだを折り曲げ、飛鳥の如く身近かの一人に襲いかかり、その棍棒を奪い取って、「気の毒だが正義のためだ!」と猛然一撃、たちまち、三人を殴り倒し、残る者のひるむ隙に、さっさと走って峠を下った。
Thở hồng hộc, chàng leo lên đèo; vừa lên tới đỉnh, thở phào một cái, thì đột nhiên một toán sơn tặc nhảy xổ ra trước mặt. “Đứng lại!” — “Các ngươi làm gì vậy? Ta phải đến hoàng thành trước khi mặt trời lặn. Buông ra!” — “Còn lâu. Để lại hết đồ đạc rồi hẵng đi.” — “Ta chẳng có gì ngoài cái mạng. Mà cái mạng duy nhất ấy, ta cũng sắp đem dâng cho nhà vua rồi.” — “Bọn ta cần chính cái mạng ấy đấy.” — “Ra là các ngươi phụng mệnh nhà vua, mai phục ta ở đây phải không!” Toán cướp chẳng nói chẳng rằng, nhất loạt vung gậy. Melos thoắt cái cúi rạp người, như cánh chim lao vụt vào tên gần nhất, đoạt lấy cây gậy: “Đáng tiếc cho các ngươi, nhưng đây là vì chính nghĩa!” — chàng giáng đòn dữ dội, loáng cái quật ngã ba tên; thừa lúc những tên còn lại chùn bước, chàng ba chân bốn cẳng chạy xuống đèo.
一気に峠を駈け降りたが、流石に疲労し、折から午後の灼熱の太陽がまともに、かっと照って来て、メロスは幾度となく眩暈を感じ、これではならぬ、と気を取り直しては、よろよろ二、三歩あるいて、ついに、がくりと膝を折った。立ち上る事が出来ぬのだ。天を仰いで、くやし泣きに泣き出した。路傍の草原にごろりと寝ころがった。身体疲労すれば、精神も共にやられる。もう、どうでもいいという、勇者に不似合いな不貞腐れた根性が、心の隅に巣喰った。私は、これほど努力したのだ。約束を破る心は、みじんも無かった。(中略)セリヌンティウスよ、ゆるしてくれ。君は、いつでも私を信じた。私も君を、欺かなかった。私たちは、本当に佳い友と友であったのだ。正義だの、信実だの、愛だの、考えてみれば、くだらない。人を殺して自分が生きる。それが人間世界の定法ではなかったか。ああ、何もかも、ばかばかしい。私は、醜い裏切り者だ。どうとも、勝手にするがよい。やんぬる哉。――四肢を投げ出して、うとうと、まどろんでしまった。
Chàng lao một mạch xuống hết con đèo, nhưng đến nước này thì kiệt sức thật; lại đúng lúc mặt trời gay gắt buổi chiều chiếu thẳng vào người, Melos choáng váng liên hồi. “Không được, không thể thế này” — chàng gượng dậy tinh thần, lảo đảo lê thêm hai ba bước, rồi cuối cùng khuỵu gối sụp xuống. Không đứng dậy nổi nữa. Chàng ngửa mặt lên trời, khóc tấm tức vì uất hận, rồi lăn kềnh ra vệ cỏ ven đường. Thân xác kiệt quệ thì tinh thần cũng sụp đổ theo. Một thứ tâm địa bất cần đời, hoàn toàn không xứng với người dũng sĩ, len lỏi làm tổ trong góc tim chàng: Ta đã cố gắng đến nhường này. Ta chưa từng có lấy một mảy may ý định bội ước… Selinuntius ơi, tha thứ cho ta. Cậu lúc nào cũng tin ta. Ta cũng chưa từng dối cậu. Chúng ta đã thật sự là đôi bạn hiền của nhau… Mà chính nghĩa, thành tín, tình yêu — nghĩ kỹ lại, thảy đều vớ vẩn. Giết kẻ khác để mình được sống, đó chẳng phải luật đời của thế giới con người hay sao. Ôi, mọi thứ đều nhảm nhí hết. Ta là một kẻ phản bội xấu xa. Muốn ra sao thì ra. Thế là hết! — Chàng buông xuôi cả tứ chi, thiếp đi lúc nào không hay.
ふと耳に、潺々、水の流れる音が聞えた。そっと頭をもたげ、息を呑んで耳をすました。すぐ足もとで、水が流れているらしい。よろよろ起き上って、見ると、岩の裂目から滾々と、何か小さく囁きながら清水が湧き出ているのである。その泉に吸い込まれるようにメロスは身をかがめた。水を両手で掬って、一くち飲んだ。ほうと長い溜息が出て、夢から覚めたような気がした。歩ける。行こう。肉体の疲労恢復と共に、わずかながら希望が生れた。義務遂行の希望である。わが身を殺して、名誉を守る希望である。私を、待っている人があるのだ。少しも疑わず、静かに期待してくれている人があるのだ。私は、信じられている。私は、信頼に報いなければならぬ。いまはただその一事だ。走れ! メロス。
Bỗng tai chàng nghe róc rách tiếng nước chảy. Chàng khẽ ngẩng đầu, nín thở lắng nghe. Hình như ngay dưới chân có nước. Chàng lảo đảo gượng dậy nhìn: từ khe nứt của tảng đá, một dòng nước trong đang tuôn ra cuồn cuộn, thì thầm khe khẽ. Như bị hút vào dòng suối ấy, Melos cúi rạp mình, vốc nước bằng hai tay, uống một ngụm. Một hơi thở dài buột ra, chàng thấy như vừa tỉnh khỏi cơn mộng. Đi được rồi. Đi thôi. Thân xác hồi phục thì hy vọng cũng nhen lên, dù nhỏ nhoi: hy vọng hoàn thành bổn phận, hy vọng lấy cái chết của thân này mà giữ trọn danh dự. Có người đang đợi ta. Có người không mảy may nghi ngờ, đang lặng lẽ trông mong ta. Ta đang được tin tưởng. Ta phải đáp đền lòng tin ấy. Giờ đây chỉ còn duy nhất điều đó thôi. Chạy đi! Melos!
路行く人を押しのけ、跳ねとばし、メロスは黒い風のように走った。野原で酒宴の、その宴席のまっただ中を駈け抜け、酒宴の人たちを仰天させ、犬を蹴とばし、小川を飛び越え、少しずつ沈んでゆく太陽の、十倍も早く走った。一団の旅人と颯っとすれちがった瞬間、不吉な会話を小耳にはさんだ。「いまごろは、あの男も、磔にかかっているよ。」ああ、その男、その男のために私は、いまこんなに走っているのだ。その男を死なせてはならない。急げ、メロス。おくれてはならぬ。メロスは、いまは、ほとんど全裸体であった。呼吸も出来ず、二度、三度、口から血が噴き出た。見える。はるか向うに小さく、シラクスの市の塔楼が見える。塔楼は、夕陽を受けてきらきら光っている。
Melos xô dạt người đi đường, hất tung tất cả, chạy như một cơn gió đen. Chàng băng xuyên qua chính giữa một đám tiệc rượu ngoài đồng làm cả bọn kinh hồn, đá văng con chó, nhảy vọt qua con suối, chạy nhanh gấp mười lần vầng mặt trời đang từ từ lặn xuống. Khoảnh khắc vụt lướt qua một đoàn lữ khách, chàng nghe lỏm được câu chuyện gở: “Giờ này chắc gã ấy cũng đang bị đóng lên thập giá rồi.” Ôi, chính vì con người ấy, con người ấy mà ta đang chạy đến thế này đây! Không được để người ấy chết. Mau lên, Melos! Không được trễ! Melos lúc này gần như trần truồng. Thở không nổi nữa, đôi ba lần máu trào ra khỏi miệng. Thấy rồi. Xa tít đằng kia, nhỏ xíu — tòa tháp canh của thành Syracuse. Tòa tháp đang lấp lánh trong ánh chiều tà.
「ああ、メロス様。」うめくような声が、風と共に聞えた。「誰だ。」メロスは走りながら尋ねた。「フィロストラトスでございます。貴方のお友達セリヌンティウス様の弟子でございます。」その若い石工も、メロスの後について走りながら叫んだ。「もう、駄目でございます。むだでございます。走るのは、やめて下さい。もう、あの方をお助けになることは出来ません。」「いや、まだ陽は沈まぬ。」「ちょうど今、あの方が死刑になるところです。ああ、あなたは遅かった。おうらみ申します。ほんの少し、もうちょっとでも、早かったなら!」「いや、まだ陽は沈まぬ。」メロスは胸の張り裂ける思いで、赤く大きい夕陽ばかりを見つめていた。走るより他は無い。「それだから、走るのだ。信じられているから走るのだ。間に合う、間に合わぬは問題でないのだ。人の命も問題でないのだ。私は、なんだか、もっと恐ろしく大きいものの為に走っているのだ。ついて来い! フィロストラトス。」
“Ôi, ngài Melos!” — một giọng nói như rên rỉ theo gió vẳng đến. “Ai đấy?” Melos vừa chạy vừa hỏi. “Philostratus đây ạ. Đệ tử của ngài Selinuntius, bạn của ngài.” Người thợ đá trẻ vừa chạy theo sau Melos vừa gào: “Không kịp nữa rồi. Vô ích thôi. Xin ngài đừng chạy nữa. Không còn cứu được người ấy nữa đâu.” — “Không, mặt trời chưa lặn.” — “Ngay lúc này người ta đang hành hình ngài ấy. Ôi, ngài trễ mất rồi. Tôi oán ngài lắm. Giá mà sớm hơn, chỉ một chút, một chút nữa thôi!” — “Không, mặt trời chưa lặn!” Melos ruột gan như xé, mắt chỉ dán chặt vào vầng mặt trời chiều đỏ ối. Ngoài chạy ra chẳng còn cách nào khác. “Chính vì thế mà ta chạy. Vì được tin tưởng nên ta chạy. Kịp hay không kịp không phải là vấn đề. Mạng người cũng không phải là vấn đề. Ta đang chạy vì một điều gì đó lớn lao và đáng sợ hơn thế nhiều. Theo ta, Philostratus!”
言うにや及ぶ。まだ陽は沈まぬ。最後の死力を尽して、メロスは走った。メロスの頭は、からっぽだ。何一つ考えていない。ただ、わけのわからぬ大きな力にひきずられて走った。陽は、ゆらゆら地平線に没し、まさに最後の一片の残光も、消えようとした時、メロスは疾風の如く刑場に突入した。間に合った。
Còn phải nói. Mặt trời vẫn chưa lặn. Vắt kiệt chút tử lực cuối cùng, Melos chạy. Đầu óc Melos trống rỗng, không nghĩ được bất cứ điều gì, chỉ bị một sức mạnh khổng lồ không tên lôi tuột đi mà chạy. Mặt trời chập chờn chìm xuống đường chân trời, và đúng khoảnh khắc mảnh sáng tàn cuối cùng sắp tắt lịm, Melos như cơn cuồng phong xông thẳng vào pháp trường. Kịp rồi!
「待て。その人を殺してはならぬ。メロスが帰って来た。約束のとおり、いま、帰って来た。」と大声で刑場の群衆にむかって叫んだつもりであったが、喉がつぶれて嗄れた声が幽かに出たばかり、群衆は、ひとりとして彼の到着に気がつかない。すでに磔の柱が高々と立てられ、縄を打たれたセリヌンティウスは、徐々に釣り上げられてゆく。メロスはそれを目撃して最後の勇、先刻、濁流を泳いだように群衆を掻きわけ、掻きわけ、「私だ、刑吏! 殺されるのは、私だ。メロスだ。彼を人質にした私は、ここにいる!」と、かすれた声で精一ぱいに叫びながら、ついに磔台に昇り、釣り上げられてゆく友の両足に、齧りついた。群衆は、どよめいた。あっぱれ。ゆるせ、と口々にわめいた。セリヌンティウスの縄は、ほどかれたのである。
“Khoan! Không được giết người ấy! Melos đã về! Đúng như lời hứa, ta đã về đây!” — chàng những tưởng mình đã gào lên như thế với đám đông nơi pháp trường, nhưng cổ họng đã vỡ nát, chỉ bật ra một tiếng khàn khàn yếu ớt; trong đám đông không một ai nhận ra chàng đã đến. Cây cột hành hình đã dựng lên sừng sững, Selinuntius bị trói đang từ từ bị kéo lên cao. Chứng kiến cảnh ấy, Melos dốc chút dũng khí cuối cùng, rẽ đám đông mà tiến — rẽ mãi, y như lúc bơi qua dòng nước lũ ban nãy: “Là ta đây, đao phủ! Kẻ phải chết là ta! Là Melos! Kẻ đã bắt anh ấy làm con tin là ta, đang ở đây!” — chàng gào bằng cái giọng khản đặc hết sức bình sinh, rốt cuộc trèo lên đài hành hình, bám riết lấy hai chân người bạn đang bị kéo lên. Đám đông ồ lên chấn động. “Giỏi thay!” “Tha cho anh ta!” — người người gào lên. Dây trói của Selinuntius được cởi ra.
「セリヌンティウス。」メロスは眼に涙を浮べて言った。「私を殴れ。ちから一ぱいに頬を殴れ。私は、途中で一度、悪い夢を見た。君が若し私を殴ってくれなかったら、私は君と抱擁する資格さえ無いのだ。殴れ。」セリヌンティウスは、すべてを察した様子で首肯き、刑場一ぱいに鳴り響くほど音高くメロスの右頬を殴った。殴ってから優しく微笑み、「メロス、私を殴れ。同じくらい音高く私の頬を殴れ。私はこの三日の間、たった一度だけ、ちらと君を疑った。生れて、はじめて君を疑った。君が私を殴ってくれなければ、私は君と抱擁できない。」メロスは腕に唸りをつけてセリヌンティウスの頬を殴った。「ありがとう、友よ。」二人同時に言い、ひしと抱き合い、それから嬉し泣きにおいおい声を放って泣いた。
“Selinuntius!” Melos rưng rưng nước mắt nói. “Hãy đánh ta đi. Dồn hết sức mà tát vào má ta. Giữa đường, ta đã một lần mơ một giấc mơ xấu xa. Nếu cậu không đánh ta, ta không có tư cách ôm lấy cậu nữa. Đánh đi!” Selinuntius như đã hiểu thấu tất cả, gật đầu, rồi tát vào má phải Melos một cái vang dội khắp pháp trường. Tát xong, anh mỉm cười dịu dàng: “Melos, hãy đánh ta. Hãy tát vào má ta một cái kêu đúng bằng thế. Trong ba ngày qua, chỉ duy nhất một lần, ta đã thoáng nghi ngờ cậu. Lần đầu tiên trong đời ta nghi ngờ cậu. Nếu cậu không đánh ta, ta không thể ôm cậu được.” Melos vung cánh tay vù gió, tát vào má Selinuntius. “Cảm ơn, bạn của ta!” — hai người thốt lên cùng lúc, ôm chầm lấy nhau, rồi cứ thế khóc òa lên hu hu vì sung sướng.
群衆の中からも、歔欷の声が聞えた。暴君ディオニスは、群衆の背後から二人の様を、まじまじと見つめていたが、やがて静かに二人に近づき、顔をあからめて、こう言った。「おまえらの望みは叶ったぞ。おまえらは、わしの心に勝ったのだ。信実とは、決して空虚な妄想ではなかった。どうか、わしをも仲間に入れてくれまいか。どうか、わしの願いを聞き入れて、おまえらの仲間の一人にしてほしい。」どっと群衆の間に、歓声が起った。「万歳、王様万歳。」
Trong đám đông cũng vang lên những tiếng thổn thức. Bạo chúa Dionys từ phía sau đám đông đăm đăm nhìn cảnh tượng của hai người, rồi lặng lẽ tiến lại gần, mặt đỏ bừng, nói: “Ước nguyện của các ngươi đã thành. Các ngươi đã chiến thắng trái tim ta. Thành tín quả thật không hề là một ảo tưởng rỗng tuếch. Xin các ngươi… hãy cho ta được nhập bọn. Xin hãy nghe lời thỉnh cầu này của ta, cho ta làm một người trong nhóm bạn của các ngươi.” Đám đông ào lên tiếng hoan hô: “Vạn tuế! Đức vua vạn tuế!”
ひとりの少女が、緋のマントをメロスに捧げた。メロスは、まごついた。佳き友は、気をきかせて教えてやった。「メロス、君は、まっぱだかじゃないか。早くそのマントを着るがいい。この可愛い娘さんは、メロスの裸体を、皆に見られるのが、たまらなく口惜しいのだ。」勇者は、ひどく赤面した。
Một cô bé dâng lên Melos tấm áo choàng đỏ thắm. Melos lúng túng chẳng hiểu gì. Người bạn hiền tinh ý nhắc khéo: “Melos này, cậu đang trần như nhộng đấy. Mau khoác tấm áo choàng ấy vào. Cô bé đáng yêu này không chịu nổi khi thấy tấm thân trần của Melos bị mọi người nhìn thấy đâu.” Người dũng sĩ đỏ mặt tía tai.
(古伝説と、シルレルの詩から。)
(Phóng tác từ truyền thuyết cổ và thơ của Schiller.)
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 身代わり | みがわり | người thế mạng |
| 信実 | しんじつ | lòng thành tín |
| 信頼 | しんらい | sự tin cậy |
| 濁流 | だくりゅう | dòng nước lũ đục |
| 山賊 | さんぞく | sơn tặc, cướp núi |
| 正義 | せいぎ | chính nghĩa |
| 裏切り者 | うらぎりもの | kẻ phản bội |
| 刑場 | けいじょう | pháp trường |
| 間に合う | まにあう | kịp giờ |
| 抱擁 | ほうよう | cái ôm |
Nguồn văn bản gốc: 太宰治「走れメロス」(1940) — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「太宰治全集3」ちくま文庫、筑摩書房。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.
📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.
Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.





Gửi phản hồi