走れメロス — Chạy đi, Melos!

Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.


太宰治 (Dazai Osamu) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng

メロスは激怒げきどした。必かならず、かの邪智暴虐じゃちぼうぎゃくの王おうを除のぞかなければならぬと決意けついした。メロスには政治せいじがわからぬ。メロスは、村むらの牧人ぼくじんである。笛ふえを吹ふき、羊ひつじと遊あそんで暮くらして来きた。けれども邪悪じゃあくに対たいしては、人一倍ひといちばいに敏感びんかんであった。

Melos nổi trận lôi đình. Chàng quyết chí: nhất định phải trừ khử tên vua gian trá bạo tàn kia. Melos chẳng hiểu gì chính trị. Chàng chỉ là một gã chăn cừu trong làng, sống bằng nghề thổi sáo và rong chơi cùng bầy cừu. Nhưng trước cái ác, chàng nhạy cảm gấp bội người thường.

きょう未明みめいメロスは村むらを出発しゅっぱつし、野のを越こえ山越やまこえ、十里じゅうりはなれた此このシラクスの市まちにやって来きた。メロスには父ちちも、母ははも無ない。女房にょうぼうも無ない。十六じゅうろくの、内気うちきな妹いもうとと二人暮ふたりぐらしだ。この妹いもうとは、村むらの或ある律気りちぎな一牧人いちぼくじんを、近々ちかぢか、花婿はなむことして迎むかえる事ことになっていた。結婚式けっこんしきも間近まぢかかなのである。メロスは、それゆえ、花嫁はなよめの衣裳いしょうやら祝宴しゅくえんの御馳走ごちそうやらを買かいに、はるばる市まちにやって来きたのだ。先まず、その品々しなじなを買かい集あつめ、それから都みやこの大路おおじをぶらぶら歩あるいた。メロスには竹馬ちくばの友ともがあった。セリヌンティウスである。今いまは此このシラクスの市まちで、石工いしくをしている。その友ともを、これから訪たずねてみるつもりなのだ。久ひさしく逢あわなかったのだから、訪たずねて行いくのが楽たのしみである。

Sáng sớm tinh mơ hôm nay, Melos rời làng, băng đồng vượt núi, đến thành Syracuse cách mười dặm đường. Melos không cha, không mẹ, cũng chẳng vợ con. Chàng sống cùng cô em gái mười sáu tuổi tính tình nhút nhát. Cô em ấy sắp sửa đón một chàng chăn cừu hiền lành đứng đắn trong làng về làm chồng; hôn lễ đã cận kề. Bởi thế Melos mới lặn lội ra thành mua áo cưới cho cô dâu và các món cho tiệc cưới. Mua sắm xong xuôi, chàng thong dong dạo bước trên đại lộ kinh thành. Melos có một người bạn nối khố tên Selinuntius, hiện làm thợ đá ở thành Syracuse này. Chàng định lát nữa ghé thăm bạn. Lâu lắm rồi không gặp, nên chàng háo hức lắm.

歩あるいているうちにメロスは、まちの様子ようすを怪あやしく思おもった。ひっそりしている。もう既すでに日ひも落おちて、まちの暗くらいのは当あたりまえだが、けれども、なんだか、夜よるのせいばかりでは無なく、市全体まちぜんたいが、やけに寂さびしい。のんきなメロスも、だんだん不安ふあんになって来きた。路みちで逢あった若わかい衆しゅうをつかまえて、何なにかあったのか、二年にねんまえに此この市まちに来きたときは、夜よるでも皆みんなが歌うたをうたって、まちは賑にぎやかであった筈はずだが、と質問しつもんした。若わかい衆しゅうは、首くびを振ふって答こたえなかった。しばらく歩あるいて老爺ろうやに逢あい、こんどはもっと、語勢ごせいを強つよくして質問しつもんした。老爺ろうやは答こたえなかった。メロスは両手りょうてで老爺ろうやのからだをゆすぶって質問しつもんを重かさねた。老爺ろうやは、あたりをはばかる低声ていせいで、わずか答こたえた。「王様おうさまは、人ひとを殺ころします。」「なぜ殺ころすのだ。」「悪心あくしんを抱いだいている、というのですが、誰だれもそんな、悪心あくしんを持もっては居おりませぬ。」「たくさんの人ひとを殺ころしたのか。」「はい、はじめは王様おうさまの妹婿いもうとむこさまを。それから、御自身ごじしんのお世嗣よつぎを。それから、妹いもうとさまを。それから、妹いもうとさまの御子みこさまを。それから、皇后こうごうさまを。それから、賢臣けんしんのアレキス様さまを。」「おどろいた。国王こくおうは乱心らんしんか。」「いいえ、乱心らんしんではございませぬ。人ひとを、信しんずる事ことが出来できぬ、というのです。このごろは、臣下しんかの心こころをも、お疑うたがいになり、少すこしく派手はでな暮くらしをしている者ものには、人質ひとじちひとりずつ差さし出だすことを命めいじて居おります。御命令ごめいれいを拒こばめば十字架じゅうじかにかけられて、殺ころされます。きょうは、六人ろくにん殺ころされました。」

Đi được một lát, Melos thấy quang cảnh phố xá có gì đó khả nghi. Vắng lặng quá. Mặt trời đã lặn, phố tối là chuyện thường, nhưng cái vẻ hiu quạnh bao trùm cả thành phố này hình như không chỉ vì trời đêm. Ngay cả Melos vô tư cũng dần thấy bất an. Chàng níu một người trai trẻ gặp trên đường lại hỏi: có chuyện gì xảy ra vậy, hai năm trước tôi đến thành này, ban đêm ai nấy còn ca hát, phố xá tưng bừng lắm kia mà? Người trai trẻ chỉ lắc đầu không đáp. Đi thêm một quãng gặp một cụ già, lần này chàng gặng hỏi gắt hơn. Cụ già không trả lời. Melos túm hai vai cụ lắc mạnh, hỏi dồn. Cụ già dè chừng nhìn quanh, khẽ đáp: “Đức vua… giết người.” — “Vì sao lại giết?” — “Bảo là mang lòng phản trắc. Nhưng nào ai có lòng dạ ấy đâu.” — “Ngài đã giết nhiều người rồi sao?” — “Vâng. Đầu tiên là em rể của đức vua. Rồi đến thái tử của chính ngài. Rồi hoàng muội. Rồi con của hoàng muội. Rồi hoàng hậu. Rồi cả hiền thần Alexis nữa.” — “Kinh khủng. Nhà vua điên loạn rồi chăng?” — “Không, không phải điên loạn. Người ta bảo ngài không còn tin nổi con người nữa. Dạo này ngài nghi ngờ cả lòng dạ bề tôi; nhà ai ăn ở hơi khấm khá là bị lệnh phải nộp một người làm con tin. Kháng lệnh thì bị đóng lên thập giá xử tử. Hôm nay đã có sáu người bị giết rồi.”

聞きいて、メロスは激怒げきどした。「呆あきれた王おうだ。生いかして置おけぬ。」メロスは、単純たんじゅんな男おとこであった。買かい物ものを、背負せおったままで、のそのそ王城おうじょうにはいって行いった。たちまち彼かれは、巡邏じゅんらの警吏けいりに捕縛ほばくされた。調しらべられて、メロスの懐中かいちゅうからは短剣たんけんが出でて来きたので、騒さわぎが大おおきくなってしまった。メロスは、王おうの前まえに引ひき出だされた。

Nghe xong, Melos nổi trận lôi đình. “Đúng là hôn quân. Không thể để nó sống!” Melos vốn là người đơn giản. Vẫn cõng nguyên đống đồ mua sắm trên lưng, chàng lù lù đi thẳng vào hoàng thành. Lập tức chàng bị lính tuần bắt giữ. Khám người, thấy trong áo Melos có con dao găm, sự việc càng ầm ĩ. Melos bị điệu ra trước mặt vua.

「この短刀たんとうで何なにをするつもりであったか。言いえ!」暴君ぼうくんディオニスは静しずかに、けれども威厳いげんを以もって問といつめた。その王おうの顔かおは蒼白そうはくで、眉間みけんの皺しわは、刻きざみ込こまれたように深ふかかった。「市まちを暴君ぼうくんの手てから救すくうのだ。」とメロスは悪わるびれずに答こたえた。「おまえがか?」王おうは、憫笑びんしょうした。「仕方しかたの無ないやつじゃ。おまえには、わしの孤独こどくがわからぬ。」「言いうな!」とメロスは、いきり立たって反駁はんばくした。「人ひとの心こころを疑うたがうのは、最もっとも恥はずべき悪徳あくとくだ。王おうは、民たみの忠誠ちゅうせいをさえ疑うたがって居おられる。」「疑うたがうのが、正当せいとうの心構こころがまえなのだと、わしに教おしえてくれたのは、おまえたちだ。人ひとの心こころは、あてにならない。人間にんげんは、もともと私慾しよくのかたまりさ。信しんじては、ならぬ。」暴君ぼうくんは落着おちついて呟つぶやき、ほっと溜息ためいきをついた。「わしだって、平和へいわを望のぞんでいるのだが。」

“Ngươi định làm gì với con dao này? Nói!” Bạo chúa Dionys tra hỏi, giọng bình thản mà đầy uy quyền. Gương mặt nhà vua trắng bệch, nếp nhăn giữa hai hàng mày hằn sâu như khắc. “Ta định cứu thành này khỏi tay bạo chúa,” Melos đáp, không chút nao núng. “Ngươi ư?” — vua cười khinh miệt. “Đồ vô phương cứu chữa. Ngươi làm sao hiểu nổi nỗi cô độc của ta.” — “Đừng nói nữa!” Melos sôi máu cãi lại. “Nghi ngờ lòng người là thói xấu đáng hổ thẹn nhất. Nhà vua lại đi ngờ vực cả lòng trung của thần dân!” — “Chính lũ các ngươi đã dạy ta rằng nghi ngờ mới là thái độ đúng đắn. Lòng người không thể trông cậy. Con người vốn dĩ là một khối tư dục. Không thể tin được.” Bạo chúa lẩm bẩm điềm nhiên, rồi khẽ buông một tiếng thở dài. “Ta đây cũng mong hòa bình lắm chứ.”

「なんの為ための平和へいわだ。自分じぶんの地位ちいを守まもる為ためか。」こんどはメロスが嘲笑ちょうしょうした。「罪つみの無ない人ひとを殺ころして、何なにが平和へいわだ。」「だまれ、下賤げせんの者もの。」王おうは、さっと顔かおを挙あげて報むくいた。「口くちでは、どんな清きよらかな事ことでも言いえる。わしには、人ひとの腹綿はらわたの奥底おくそこが見みえ透すいてならぬ。おまえだって、いまに、磔はりつけになってから、泣ないて詫わびたって聞きかぬぞ。」「ああ、王おうは悧巧りこうだ。自惚うぬぼれているがよい。私わたしは、ちゃんと死しぬる覚悟かくごで居いるのに。命乞いのちごいなど決けっしてしない。ただ、――」と言いいかけて、メロスは足あしもとに視線しせんを落おとし瞬時しゅんじためらい、「ただ、私わたしに情なさけをかけたいつもりなら、処刑しょけいまでに三日間みっかかんの日限にちげんを与あたえて下ください。たった一人ひとりの妹いもうとに、亭主ていしゅを持もたせてやりたいのです。三日みっかのうちに、私わたしは村むらで結婚式けっこんしきを挙あげさせ、必かならず、ここへ帰かえって来きます。」

“Hòa bình để làm gì? Để giữ cái ngai của ngươi chắc?” — lần này đến lượt Melos cười nhạo. “Giết người vô tội mà đòi hòa bình cái gì!” — “Câm mồm, quân hạ tiện!” vua ngẩng phắt mặt lên đáp trả. “Miệng lưỡi thì nói gì thanh cao chẳng được. Còn ta, ta nhìn thấu tận đáy ruột gan con người. Cả ngươi nữa, đợi lúc bị đóng lên thập giá rồi có khóc lóc van xin ta cũng chẳng nghe đâu.” — “Chao ôi, đức vua khôn ngoan thật. Cứ việc tự đắc đi. Ta đã sẵn sàng chết. Quyết không van xin tha mạng. Chỉ có điều—” Melos ngập ngừng, cụp mắt nhìn xuống chân trong thoáng chốc, “—chỉ xin, nếu ngài còn chút lòng thương, hãy cho ta ba ngày trước khi hành hình. Ta muốn lo cho đứa em gái duy nhất một tấm chồng. Trong ba ngày ấy, ta sẽ về làng cho chúng làm lễ cưới, rồi nhất định quay lại đây.”

「ばかな。」と暴君ぼうくんは、嗄しわがれた声こえで低ひくく笑わらった。「とんでもない嘘うそを言いうわい。逃にがした小鳥ことりが帰かえって来くるというのか。」「そうです。帰かえって来くるのです。」メロスは必死ひっしで言いい張はった。「私わたしは約束やくそくを守まもります。私わたしを、三日間みっかかんだけ許ゆるして下ください。妹いもうとが、私わたしの帰かえりを待まっているのだ。そんなに私わたしを信しんじられないならば、よろしい、この市まちにセリヌンティウスという石工いしくがいます。私わたしの無二むにの友人ゆうじんだ。あれを、人質ひとじちとしてここに置おいて行いこう。私わたしが逃にげてしまって、三日目みっかめの日暮ひぐれまで、ここに帰かえって来こなかったら、あの友人ゆうじんを絞しめ殺ころして下ください。たのむ、そうして下ください。」

“Ngu xuẩn,” bạo chúa cười khàn giọng. “Nói láo không biết ngượng. Con chim đã sổ lồng mà đòi bay về ư?” — “Đúng vậy. Sẽ quay về.” Melos khăng khăng đến cùng. “Ta giữ lời hứa. Chỉ xin tha cho ta đúng ba ngày. Em gái ta đang đợi ta về. Nếu ngài không tin ta đến vậy thì được — trong thành này có người thợ đá tên Selinuntius, bạn chí cốt có một không hai của ta. Ta sẽ để anh ấy ở lại đây làm con tin. Nếu ta trốn biệt, đến hoàng hôn ngày thứ ba mà không quay lại, ngài cứ thắt cổ người bạn ấy. Xin ngài, hãy làm như thế.”

Từ vựng (phần đầu)
Từ Cách đọc Nghĩa
激怒 げきど nổi trận lôi đình
暴君 ぼうくん bạo chúa
人質 ひとじち con tin
疑う うたがう nghi ngờ
覚悟 かくご sự sẵn sàng đón nhận (cái chết…)
命乞い いのちごい van xin tha mạng
処刑 しょけい hành hình
約束を守る やくそくをまもる giữ lời hứa
磔 はりつけ hình phạt đóng lên thập giá

それを聞きいて王おうは、残虐ざんぎゃくな気持きもちで、そっと北叟笑ほくそえんだ。生意気なまいきなことを言いうわい。どうせ帰かえって来こないにきまっている。この嘘うそつきに騙だまされた振ふりして、放はなしてやるのも面白おもしろい。そうして身代みがわりの男おとこを、三日目みっかめに殺ころしてやるのも気味きみがいい。人ひとは、これだから信しんじられぬと、わしは悲かなしい顔かおして、その身代みがわりの男おとこを磔刑たっけいに処しょしてやるのだ。世よの中なかの、正直者しょうじきものとかいう奴輩やつばらにうんと見みせつけてやりたいものさ。「願ねがいを、聞きいた。その身代みがわりを呼よぶがよい。三日目みっかめには日没にちぼつまでに帰かえって来こい。おくれたら、その身代みがわりを、きっと殺ころすぞ。ちょっとおくれて来くるがいい。おまえの罪つみは、永遠えいえんにゆるしてやろうぞ。」「なに、何なにをおっしゃる。」「はは。いのちが大事だいじだったら、おくれて来こい。おまえの心こころは、わかっているぞ。」メロスは口惜くやしく、地団駄じだんだ踏ふんだ。ものも言いいたくなくなった。

Nghe vậy, nhà vua thầm đắc ý một cách tàn nhẫn. Ăn nói ngông cuồng gớm. Đằng nào nó cũng chẳng quay lại. Giả vờ bị thằng dối trá này lừa mà thả nó ra, kể cũng hay. Rồi đến ngày thứ ba đem thằng thế mạng ra giết, càng khoái. Ta sẽ làm bộ mặt buồn rầu mà xử giảo thằng thế mạng ấy, rằng: đấy, con người là thế, không tin được đâu. Phải cho cái lũ tự xưng “người chính trực” trên đời này sáng mắt ra. “Ta chuẩn y lời thỉnh cầu. Gọi kẻ thế mạng ấy đến đi. Ngày thứ ba, phải về trước khi mặt trời lặn. Trễ hẹn, kẻ thế mạng chắc chắn bị giết. Mà ngươi cứ trễ một chút cũng hay. Tội của ngươi, ta sẽ vĩnh viễn xá cho.” — “Gì… ngài nói gì vậy!” — “Ha ha. Nếu tiếc mạng thì cứ về trễ. Lòng dạ ngươi, ta rõ cả rồi.” Melos uất đến giậm chân bành bạch. Chàng không buồn nói thêm lời nào nữa.

竹馬ちくばの友とも、セリヌンティウスは、深夜しんや、王城おうじょうに召めされた。暴君ぼうくんディオニスの面前めんぜんで、佳よき友ともと佳よき友ともは、二年にねんぶりで相逢あいあうた。メロスは、友ともに一切いっさいの事情じじょうを語かたった。セリヌンティウスは無言むごんで首肯うなずき、メロスをひしと抱だきしめた。友ともと友ともの間あいだは、それでよかった。セリヌンティウスは、縄打なわうたれた。メロスは、すぐに出発しゅっぱつした。初夏しょか、満天まんてんの星ほしである。

Người bạn nối khố Selinuntius bị triệu vào hoàng thành lúc nửa đêm. Trước mặt bạo chúa Dionys, đôi bạn hiền gặp lại nhau sau hai năm xa cách. Melos kể cho bạn nghe hết đầu đuôi. Selinuntius lặng lẽ gật đầu, ôm chặt lấy Melos. Giữa bạn với bạn, thế là đủ. Selinuntius bị trói lại. Melos lập tức lên đường. Đầu hạ, trời đầy sao.

メロスはその夜よ、一睡いっすいもせず十里じゅうりの路みちを急いそぎに急いそいで、村むらへ到着とうちゃくしたのは、翌あくる日ひの午前ごぜん、陽ひは既すでに高たかく昇のぼって、村人むらびとたちは野のに出でて仕事しごとをはじめていた。メロスの十六じゅうろくの妹いもうとも、きょうは兄あにの代かわりに羊群ようぐんの番ばんをしていた。よろめいて歩あるいて来くる兄あにの、疲労困憊ひろうこんぱいの姿すがたを見みつけて驚おどろいた。そうして、うるさく兄あにに質問しつもんを浴あびせた。「なんでも無ない。」メロスは無理むりに笑わらおうと努つとめた。「市まちに用事ようじを残のこして来きた。またすぐ市まちに行いかなければならぬ。あす、おまえの結婚式けっこんしきを挙あげる。早はやいほうがよかろう。」妹いもうとは頬ほおをあからめた。「うれしいか。綺麗きれいな衣裳いしょうも買かって来きた。さあ、これから行いって、村むらの人ひとたちに知しらせて来こい。結婚式けっこんしきは、あすだと。」

Đêm ấy Melos không chợp mắt lấy một giây, cắm cúi rảo bước hết mười dặm đường; về đến làng thì đã sáng hôm sau, mặt trời lên cao, dân làng đã ra đồng làm lụng. Cô em gái mười sáu tuổi hôm nay thay anh trông bầy cừu. Thấy dáng anh trai loạng choạng lê về, mệt lử tơi tả, cô hoảng hốt, dồn dập hỏi han. “Không có gì đâu,” Melos gắng gượng cười. “Anh còn để dở việc ngoài thành, lát phải đi ngay. Ngày mai làm lễ cưới cho em. Sớm chừng nào tốt chừng ấy.” Cô em đỏ ửng má. “Vui không? Anh mua cả áo cưới đẹp về rồi đây. Nào, đi báo cho dân làng đi: lễ cưới là ngày mai.”

メロスは、また、よろよろと歩あるき出だし、家いえへ帰かえって神々かみがみの祭壇さいだんを飾かざり、祝宴しゅくえんの席せきを調ととのえ、間まもなく床ゆかに倒たおれ伏ふし、呼吸こきゅうもせぬくらいの深ふかい眠ねむりに落おちてしまった。眼めが覚さめたのは夜よるだった。メロスは起おきてすぐ、花婿はなむこの家いえを訪おとずれた。そうして、少すこし事情じじょうがあるから、結婚式けっこんしきを明日あすにしてくれ、と頼たのんだ。婿むこの牧人ぼくじんは驚おどろき、それはいけない、こちらには未まだ何なんの仕度したくも出来できていない、葡萄ぶどうの季節きせつまで待まってくれ、と答こたえた。メロスは、待まつことは出来できぬ、どうか明日あすにしてくれ給たまえ、と更さらに押おしてたのんだ。婿むこの牧人ぼくじんも頑強がんきょうであった。なかなか承諾しょうだくしてくれない。夜明よあけまで議論ぎろんをつづけて、やっと、どうにか婿むこをなだめ、すかして、説とき伏ふせた。

Melos lại loạng choạng cất bước, về nhà trang hoàng bàn thờ các vị thần, sửa soạn chỗ bày tiệc cưới, rồi chẳng mấy chốc đổ vật xuống sàn, chìm vào giấc ngủ sâu đến tưởng như ngừng thở. Tỉnh dậy thì trời đã tối. Melos dậy là đến ngay nhà chú rể, nhờ vả: vì có chút việc riêng, hãy cho làm lễ cưới vào ngày mai. Chàng rể chăn cừu hoảng hốt: thế thì không được, bên này chưa chuẩn bị được gì cả, xin đợi đến mùa nho. Melos ép tới: không đợi được, xin anh, cứ cho ngày mai đi. Chàng rể cũng cứng đầu chẳng kém, mãi không chịu ưng. Hai bên tranh cãi đến tận rạng sáng, cuối cùng Melos mới dỗ dành, nài nỉ, thuyết phục được chú rể xuôi lòng.

結婚式けっこんしきは、真昼まひるに行おこなわれた。新郎新婦しんろうしんぷの、神々かみがみへの宣誓せんせいが済すんだころ、黒雲くろくもが空そらを覆おおい、ぽつりぽつり雨あめが降ふり出だし、やがて車軸しゃじくを流ながすような大雨おおあめとなった。祝宴しゅくえんに列席れっせきしていた村人むらびとたちは、何なにか不吉ふきつなものを感かんじたが、それでも、めいめい気持きもちを引ひきたて、狭せまい家いえの中なかで、むんむん蒸むし暑あついのも怺こらえ、陽気ようきに歌うたをうたい、手てを拍うった。メロスも、満面まんめんに喜色きしょくを湛たたえ、しばらくは、王おうとのあの約束やくそくをさえ忘わすれていた。祝宴しゅくえんは、夜よるに入はいっていよいよ乱みだれ華はなやかになり、人々ひとびとは、外そとの豪雨ごううを全まったく気きにしなくなった。メロスは、一生いっしょうこのままここにいたい、と思おもった。この佳よい人ひとたちと生涯しょうがい暮くらして行いきたいと願ねがったが、いまは、自分じぶんのからだで、自分じぶんのものでは無ない。ままならぬ事ことである。メロスは、わが身みに鞭打むちうち、ついに出発しゅっぱつを決意けついした。あすの日没にちぼつまでには、まだ十分じゅうぶんの時ときが在ある。ちょっと一眠ひとねむりして、それからすぐに出発しゅっぱつしよう、と考かんがえた。

Lễ cưới cử hành giữa trưa. Khi cô dâu chú rể vừa tuyên thệ trước các vị thần xong, mây đen kéo kín trời, mưa bắt đầu lộp độp, rồi chẳng mấy chốc thành trận mưa như trút nước. Dân làng dự tiệc cảm thấy có gì đó chẳng lành, nhưng ai nấy vẫn tự vực tinh thần, chịu cái nóng hầm hập trong căn nhà chật, hát hò vỗ tay rôm rả. Melos cũng mặt mày rạng rỡ, trong chốc lát quên cả lời hẹn với nhà vua. Tiệc về đêm càng tưng bừng náo nhiệt, chẳng ai buồn để ý trận mưa lớn ngoài kia nữa. Melos thầm ước được ở lại đây như thế này trọn đời, sống mãi bên những con người hiền hậu này — nhưng lúc này, tấm thân chàng không còn thuộc về chàng nữa. Muốn cũng chẳng được. Melos tự quất roi vào mình, cuối cùng quyết chí lên đường. Đến hoàng hôn ngày mai vẫn còn khối thời gian. Chàng tính: hãy chợp mắt một lát, rồi đi ngay.

眼めが覚さめたのは翌あくる日ひの薄明はくめいの頃ころである。メロスは跳はね起おき、南無三なむさん、寝過ねすしたか、いや、まだまだ大丈夫だいじょうぶ、これからすぐに出発しゅっぱつすれば、約束やくそくの刻限こくげんまでには十分じゅうぶん間まに合あう。きょうは是非ぜひとも、あの王おうに、人ひとの信実しんじつの存そんするところを見みせてやろう。そうして笑わらって磔はりつけの台だいに上のぼってやる。メロスは、悠々ゆうゆうと身仕度みじたくをはじめた。雨あめも、いくぶん小降こぶりになっている様子ようすである。身仕度みじたくは出来できた。さて、メロスは、ぶるんと両腕りょううでを大おおきく振ふって、雨中うちゅう、矢やの如ごとく走はしり出でた。

Chàng tỉnh dậy vào lúc tờ mờ sáng hôm sau. Melos bật dậy — trời đất, ngủ quên rồi sao? Không, vẫn còn kịp chán. Xuất phát ngay bây giờ thì vẫn dư sức về trước giờ hẹn. Hôm nay nhất định phải cho tên vua kia thấy lòng thành tín của con người là có thật. Rồi cứ thế mỉm cười mà bước lên đài hành hình. Melos ung dung sửa soạn. Mưa xem chừng cũng đã ngớt phần nào. Sửa soạn xong xuôi, Melos vung mạnh hai cánh tay, lao vút vào màn mưa như một mũi tên.

私わたしは、今宵こよい、殺ころされる。殺ころされる為ために走はしるのだ。身代みがわりの友ともを救すくう為ために走はしるのだ。王おうの奸佞邪智かんねいじゃちを打うち破やぶる為ために走はしるのだ。走はしらなければならぬ。そうして、私わたしは殺ころされる。若わかい時ときから名誉めいよを守まもれ。さらば、ふるさと。若わかいメロスは、つらかった。幾度いくどか、立たちどまりそうになった。えい、えいと大声おおごえ挙あげて自身じしんを叱しかりながら走はしった。村むらを出でて、野のを横切よこぎり、森もりをくぐり抜ぬけ、隣村となりむらに着ついた頃ころには、雨あめも止やみ、日ひは高たかく昇のぼって、そろそろ暑あつくなって来きた。

Đêm nay, ta sẽ bị giết. Ta chạy là để bị giết. Ta chạy để cứu người bạn đang thế mạng. Ta chạy để đập tan lòng gian trá xảo quyệt của nhà vua. Phải chạy. Rồi ta sẽ bị giết. Hãy giữ lấy danh dự từ thuở thiếu thời. Vĩnh biệt, quê hương! Chàng Melos trẻ tuổi đau đớn lắm. Mấy lần chàng suýt dừng chân. Chàng vừa chạy vừa hét lớn “Ây! Ây!” tự quát mắng chính mình. Ra khỏi làng, băng qua đồng, luồn qua rừng; đến làng bên thì mưa đã tạnh, mặt trời lên cao, trời bắt đầu oi.

ぶらぶら歩あるいて二里にり行いき三里さんり行いき、そろそろ全里程ぜんりていの半なかばに到達とうたつした頃ころ、降ふって湧わいた災難さいなん、メロスの足あしは、はたと、とまった。見みよ、前方ぜんぽうの川かわを。きのうの豪雨ごううで山やまの水源地すいげんちは氾濫はんらんし、濁流だくりゅう滔々とうとうと下流かりゅうに集あつまり、猛勢もうせい一挙いっきょに橋はしを破壊はかいし、どうどうと響ひびきをあげる激流げきりゅうが、木葉微塵こっぱみじんに橋桁はしげたを跳はね飛とばしていた。彼かれは茫然ぼうぜんと、立たちすくんだ。メロスは川岸かわぎしにうずくまり、男泣おとこなきに泣なきながらゼウスに手てを挙あげて哀願あいがんした。「ああ、鎮しずめたまえ、荒あれ狂くるう流ながれを! 時ときは刻々こくこくに過すぎて行いきます。太陽たいようも既すでに真昼時まひるどきです。あれが沈しずんでしまわぬうちに、王城おうじょうに行いき着つくことが出来できなかったら、あの佳よい友達ともだちが、私わたしのために死しぬのです。」

Chàng thong thả đi hai dặm, ba dặm; đến khi sắp được nửa quãng đường thì tai họa từ trên trời rơi xuống — chân Melos khựng phắt lại. Hãy nhìn dòng sông phía trước kia! Trận mưa lớn hôm qua khiến đầu nguồn trên núi vỡ tràn, dòng nước đục cuồn cuộn dồn về hạ lưu, hung hãn quật sập cây cầu trong một đòn; dòng lũ gầm réo ầm ầm đã hất tung xà cầu vỡ vụn thành trăm mảnh. Chàng chết lặng, đứng như trời trồng. Melos sụp xuống bên bờ sông, khóc rống lên như một người đàn ông chỉ biết khóc, giơ tay lên trời van nài thần Zeus: “Hỡi thần, xin dẹp yên dòng nước điên cuồng này! Thời gian đang trôi từng khắc. Mặt trời đã đứng bóng. Nếu con không tới được hoàng thành trước khi mặt trời kia lặn, người bạn hiền của con sẽ phải chết vì con!”

濁流だくりゅうは、メロスの叫さけびをせせら笑わらう如ごとく、ますます激はげしく躍おどり狂くるう。浪なみは浪なみを呑のみ、捲まき、煽あおり立たて、そうして時ときは、刻一刻こくいっこくと消きえて行いく。今いまはメロスも覚悟かくごした。泳およぎ切きるより他ほかに無ない。ああ、神々かみがみも照覧しょうらんあれ! 濁流だくりゅうにも負まけぬ愛あいと誠まことの偉大いだいな力ちからを、いまこそ発揮はっきして見みせる。メロスは、ざんぶと流ながれに飛とび込こみ、百匹ひゃっぴきの大蛇だいじゃのようにのた打うち荒あれ狂くるう浪なみを相手あいてに、必死ひっしの闘争とうそうを開始かいしした。満身まんしんの力ちからを腕うでにこめて、押おし寄よせ渦巻うずまき引ひきずる流ながれを、なんのこれしきと掻かきわけ掻かきわけ、めくらめっぽう獅子奮迅ししふんじんの人ひとの子この姿すがたには、神かみも哀あわれと思おもったか、ついに憐愍れんびんを垂たれてくれた。押おし流ながされつつも、見事みごと、対岸たいがんの樹木じゅもくの幹みきに、すがりつく事ことが出来できたのである。ありがたい。メロスは馬うまのように大おおきな胴震どうぶるいを一ひとつして、すぐにまた先さきを急いそいだ。一刻いっこくといえども、むだには出来できない。陽ひは既すでに西にしに傾かたむきかけている。

Dòng nước đục như cười khẩy trước tiếng gào của Melos, càng lồng lộn dữ dội hơn. Sóng nuốt sóng, cuộn xoáy, chồm lên; còn thời gian thì cứ từng khắc từng khắc tan biến. Giờ thì Melos cũng đã quyết: chỉ còn cách bơi qua. Hỡi các vị thần, hãy chứng giám! Sức mạnh vĩ đại của tình yêu và lòng thành không thua dòng nước lũ — chính lúc này ta sẽ phô bày cho mà xem. Melos lao ùm xuống dòng nước, mở màn trận tử chiến với những con sóng đang quằn quại điên cuồng như trăm con mãng xà. Chàng dồn toàn lực vào đôi tay, rẽ sóng mà bơi, gạt phăng dòng nước xô đẩy, cuộn xoáy, kéo ghì — “thứ này đã là gì!” Trước hình ảnh người con của loài người liều mình xông pha như sư tử ấy, có lẽ thần linh cũng động lòng thương, rốt cuộc đã rủ lòng trắc ẩn: dù bị cuốn trôi, chàng vẫn bám được ngoạn mục vào thân cây bên bờ đối diện. Đội ơn trời! Melos rùng mình một cái thật mạnh như con ngựa giũ nước, rồi lập tức tiếp tục rảo bước. Không thể phí hoài lấy một khắc. Mặt trời đã ngả về tây.

ぜいぜい荒あらい呼吸こきゅうをしながら峠とうげをのぼり、のぼり切きって、ほっとした時とき、突然とつぜん、目めの前まえに一隊いったいの山賊さんぞくが躍おどり出でた。「待まて。」「何なにをするのだ。私わたしは陽ひの沈しずまぬうちに王城おうじょうへ行いかなければならぬ。放はなせ。」「どっこい放はなさぬ。持もちもの全部ぜんぶを置おいて行いけ。」「私わたしにはいのちの他ほかには何なにも無ない。その、たった一ひとつの命いのちも、これから王おうにくれてやるのだ。」「その、いのちが欲ほしいのだ。」「さては、王おうの命令めいれいで、ここで私わたしを待まち伏ぶせしていたのだな。」山賊さんぞくたちは、ものも言いわず一斉いっせいに棍棒こんぼうを振ふり挙あげた。メロスはひょいと、からだを折おり曲まげ、飛鳥ひちょうの如ごとく身近みぢかの一人ひとりに襲おそいかかり、その棍棒こんぼうを奪うばい取とって、「気きの毒どくだが正義せいぎのためだ!」と猛然もうぜん一撃いちげき、たちまち、三人さんにんを殴なぐり倒たおし、残のこる者もののひるむ隙すきに、さっさと走はしって峠とうげを下くだった。

Thở hồng hộc, chàng leo lên đèo; vừa lên tới đỉnh, thở phào một cái, thì đột nhiên một toán sơn tặc nhảy xổ ra trước mặt. “Đứng lại!” — “Các ngươi làm gì vậy? Ta phải đến hoàng thành trước khi mặt trời lặn. Buông ra!” — “Còn lâu. Để lại hết đồ đạc rồi hẵng đi.” — “Ta chẳng có gì ngoài cái mạng. Mà cái mạng duy nhất ấy, ta cũng sắp đem dâng cho nhà vua rồi.” — “Bọn ta cần chính cái mạng ấy đấy.” — “Ra là các ngươi phụng mệnh nhà vua, mai phục ta ở đây phải không!” Toán cướp chẳng nói chẳng rằng, nhất loạt vung gậy. Melos thoắt cái cúi rạp người, như cánh chim lao vụt vào tên gần nhất, đoạt lấy cây gậy: “Đáng tiếc cho các ngươi, nhưng đây là vì chính nghĩa!” — chàng giáng đòn dữ dội, loáng cái quật ngã ba tên; thừa lúc những tên còn lại chùn bước, chàng ba chân bốn cẳng chạy xuống đèo.

一気いっきに峠とうげを駈かけ降おりたが、流石さすがに疲労ひろうし、折おりから午後ごごの灼熱しゃくねつの太陽たいようがまともに、かっと照てって来きて、メロスは幾度いくどとなく眩暈めまいを感かんじ、これではならぬ、と気きを取とり直なおしては、よろよろ二に、三歩さんぽあるいて、ついに、がくりと膝ひざを折おった。立たち上あがる事ことが出来できぬのだ。天てんを仰あおいで、くやし泣なきに泣なき出だした。路傍ろぼうの草原くさはらにごろりと寝ねころがった。身体しんたい疲労ひろうすれば、精神せいしんも共ともにやられる。もう、どうでもいいという、勇者ゆうしゃに不似合ふにあいな不貞腐ふてくされた根性こんじょうが、心こころの隅すみに巣喰すくった。私わたしは、これほど努力どりょくしたのだ。約束やくそくを破やぶる心こころは、みじんも無なかった。(中略ちゅうりゃく)セリヌンティウスよ、ゆるしてくれ。君きみは、いつでも私わたしを信しんじた。私わたしも君きみを、欺あざむかなかった。私わたしたちは、本当ほんとうに佳よい友ともと友ともであったのだ。正義せいぎだの、信実しんじつだの、愛あいだの、考かんがえてみれば、くだらない。人ひとを殺ころして自分じぶんが生いきる。それが人間世界にんげんせかいの定法じょうほうではなかったか。ああ、何なにもかも、ばかばかしい。私わたしは、醜みにくい裏切うらぎり者ものだ。どうとも、勝手かってにするがよい。やんぬる哉かな。――四肢ししを投なげ出だして、うとうと、まどろんでしまった。

Chàng lao một mạch xuống hết con đèo, nhưng đến nước này thì kiệt sức thật; lại đúng lúc mặt trời gay gắt buổi chiều chiếu thẳng vào người, Melos choáng váng liên hồi. “Không được, không thể thế này” — chàng gượng dậy tinh thần, lảo đảo lê thêm hai ba bước, rồi cuối cùng khuỵu gối sụp xuống. Không đứng dậy nổi nữa. Chàng ngửa mặt lên trời, khóc tấm tức vì uất hận, rồi lăn kềnh ra vệ cỏ ven đường. Thân xác kiệt quệ thì tinh thần cũng sụp đổ theo. Một thứ tâm địa bất cần đời, hoàn toàn không xứng với người dũng sĩ, len lỏi làm tổ trong góc tim chàng: Ta đã cố gắng đến nhường này. Ta chưa từng có lấy một mảy may ý định bội ước… Selinuntius ơi, tha thứ cho ta. Cậu lúc nào cũng tin ta. Ta cũng chưa từng dối cậu. Chúng ta đã thật sự là đôi bạn hiền của nhau… Mà chính nghĩa, thành tín, tình yêu — nghĩ kỹ lại, thảy đều vớ vẩn. Giết kẻ khác để mình được sống, đó chẳng phải luật đời của thế giới con người hay sao. Ôi, mọi thứ đều nhảm nhí hết. Ta là một kẻ phản bội xấu xa. Muốn ra sao thì ra. Thế là hết! — Chàng buông xuôi cả tứ chi, thiếp đi lúc nào không hay.

ふと耳みみに、潺々せんせん、水みずの流ながれる音おとが聞きこえた。そっと頭あたまをもたげ、息いきを呑のんで耳みみをすました。すぐ足あしもとで、水みずが流ながれているらしい。よろよろ起おき上あがって、見みると、岩いわの裂目さけめから滾々こんこんと、何なにか小ちいさく囁ささやきながら清水しみずが湧わき出でているのである。その泉いずみに吸すい込こまれるようにメロスは身みをかがめた。水みずを両手りょうてで掬すくって、一ひとくち飲のんだ。ほうと長ながい溜息ためいきが出でて、夢ゆめから覚さめたような気きがした。歩あるける。行いこう。肉体にくたいの疲労ひろう恢復かいふくと共ともに、わずかながら希望きぼうが生うまれた。義務ぎむ遂行すいこうの希望きぼうである。わが身みを殺ころして、名誉めいよを守まもる希望きぼうである。私わたしを、待まっている人ひとがあるのだ。少すこしも疑うたがわず、静しずかに期待きたいしてくれている人ひとがあるのだ。私わたしは、信しんじられている。私わたしは、信頼しんらいに報むくいなければならぬ。いまはただその一事いちじだ。走はしれ! メロス。

Bỗng tai chàng nghe róc rách tiếng nước chảy. Chàng khẽ ngẩng đầu, nín thở lắng nghe. Hình như ngay dưới chân có nước. Chàng lảo đảo gượng dậy nhìn: từ khe nứt của tảng đá, một dòng nước trong đang tuôn ra cuồn cuộn, thì thầm khe khẽ. Như bị hút vào dòng suối ấy, Melos cúi rạp mình, vốc nước bằng hai tay, uống một ngụm. Một hơi thở dài buột ra, chàng thấy như vừa tỉnh khỏi cơn mộng. Đi được rồi. Đi thôi. Thân xác hồi phục thì hy vọng cũng nhen lên, dù nhỏ nhoi: hy vọng hoàn thành bổn phận, hy vọng lấy cái chết của thân này mà giữ trọn danh dự. Có người đang đợi ta. Có người không mảy may nghi ngờ, đang lặng lẽ trông mong ta. Ta đang được tin tưởng. Ta phải đáp đền lòng tin ấy. Giờ đây chỉ còn duy nhất điều đó thôi. Chạy đi! Melos!

路行みちゆく人ひとを押おしのけ、跳はねとばし、メロスは黒くろい風かぜのように走はしった。野原のはらで酒宴しゅえんの、その宴席えんせきのまっただ中なかを駈かけ抜ぬけ、酒宴しゅえんの人ひとたちを仰天ぎょうてんさせ、犬いぬを蹴けとばし、小川おがわを飛とび越こえ、少すこしずつ沈しずんでゆく太陽たいようの、十倍じゅうばいも早はやく走はしった。一団いちだんの旅人たびびとと颯さっとすれちがった瞬間しゅんかん、不吉ふきつな会話かいわを小耳こみみにはさんだ。「いまごろは、あの男おとこも、磔はりつけにかかっているよ。」ああ、その男おとこ、その男おとこのために私わたしは、いまこんなに走はしっているのだ。その男おとこを死しなせてはならない。急いそげ、メロス。おくれてはならぬ。メロスは、いまは、ほとんど全裸体ぜんらたいであった。呼吸こきゅうも出来できず、二度にど、三度さんど、口くちから血ちが噴ふき出でた。見みえる。はるか向むこうに小ちいさく、シラクスの市まちの塔楼とうろうが見みえる。塔楼とうろうは、夕陽ゆうひを受うけてきらきら光ひかっている。

Melos xô dạt người đi đường, hất tung tất cả, chạy như một cơn gió đen. Chàng băng xuyên qua chính giữa một đám tiệc rượu ngoài đồng làm cả bọn kinh hồn, đá văng con chó, nhảy vọt qua con suối, chạy nhanh gấp mười lần vầng mặt trời đang từ từ lặn xuống. Khoảnh khắc vụt lướt qua một đoàn lữ khách, chàng nghe lỏm được câu chuyện gở: “Giờ này chắc gã ấy cũng đang bị đóng lên thập giá rồi.” Ôi, chính vì con người ấy, con người ấy mà ta đang chạy đến thế này đây! Không được để người ấy chết. Mau lên, Melos! Không được trễ! Melos lúc này gần như trần truồng. Thở không nổi nữa, đôi ba lần máu trào ra khỏi miệng. Thấy rồi. Xa tít đằng kia, nhỏ xíu — tòa tháp canh của thành Syracuse. Tòa tháp đang lấp lánh trong ánh chiều tà.

「ああ、メロス様さま。」うめくような声こえが、風かぜと共ともに聞きこえた。「誰だれだ。」メロスは走はしりながら尋たずねた。「フィロストラトスでございます。貴方あなたのお友達ともだちセリヌンティウス様さまの弟子でしでございます。」その若わかい石工いしくも、メロスの後あとについて走はしりながら叫さけんだ。「もう、駄目だめでございます。むだでございます。走はしるのは、やめて下ください。もう、あの方かたをお助たすけになることは出来できません。」「いや、まだ陽ひは沈しずまぬ。」「ちょうど今いま、あの方かたが死刑しけいになるところです。ああ、あなたは遅おそかった。おうらみ申もうします。ほんの少すこし、もうちょっとでも、早はやかったなら!」「いや、まだ陽ひは沈しずまぬ。」メロスは胸むねの張はり裂さける思おもいで、赤あかく大おおきい夕陽ゆうひばかりを見みつめていた。走はしるより他ほかは無ない。「それだから、走はしるのだ。信しんじられているから走はしるのだ。間まに合あう、間まに合あわぬは問題もんだいでないのだ。人ひとの命いのちも問題もんだいでないのだ。私わたしは、なんだか、もっと恐おそろしく大おおきいものの為ために走はしっているのだ。ついて来こい! フィロストラトス。」

“Ôi, ngài Melos!” — một giọng nói như rên rỉ theo gió vẳng đến. “Ai đấy?” Melos vừa chạy vừa hỏi. “Philostratus đây ạ. Đệ tử của ngài Selinuntius, bạn của ngài.” Người thợ đá trẻ vừa chạy theo sau Melos vừa gào: “Không kịp nữa rồi. Vô ích thôi. Xin ngài đừng chạy nữa. Không còn cứu được người ấy nữa đâu.” — “Không, mặt trời chưa lặn.” — “Ngay lúc này người ta đang hành hình ngài ấy. Ôi, ngài trễ mất rồi. Tôi oán ngài lắm. Giá mà sớm hơn, chỉ một chút, một chút nữa thôi!” — “Không, mặt trời chưa lặn!” Melos ruột gan như xé, mắt chỉ dán chặt vào vầng mặt trời chiều đỏ ối. Ngoài chạy ra chẳng còn cách nào khác. “Chính vì thế mà ta chạy. Vì được tin tưởng nên ta chạy. Kịp hay không kịp không phải là vấn đề. Mạng người cũng không phải là vấn đề. Ta đang chạy vì một điều gì đó lớn lao và đáng sợ hơn thế nhiều. Theo ta, Philostratus!”

言いうにや及およぶ。まだ陽ひは沈しずまぬ。最後さいごの死力しりょくを尽つくして、メロスは走はしった。メロスの頭あたまは、からっぽだ。何一なにひとつ考かんがえていない。ただ、わけのわからぬ大おおきな力ちからにひきずられて走はしった。陽ひは、ゆらゆら地平線ちへいせんに没ぼっし、まさに最後さいごの一片いっぺんの残光ざんこうも、消きえようとした時とき、メロスは疾風しっぷうの如ごとく刑場けいじょうに突入とつにゅうした。間まに合あった。

Còn phải nói. Mặt trời vẫn chưa lặn. Vắt kiệt chút tử lực cuối cùng, Melos chạy. Đầu óc Melos trống rỗng, không nghĩ được bất cứ điều gì, chỉ bị một sức mạnh khổng lồ không tên lôi tuột đi mà chạy. Mặt trời chập chờn chìm xuống đường chân trời, và đúng khoảnh khắc mảnh sáng tàn cuối cùng sắp tắt lịm, Melos như cơn cuồng phong xông thẳng vào pháp trường. Kịp rồi!

「待まて。その人ひとを殺ころしてはならぬ。メロスが帰かえって来きた。約束やくそくのとおり、いま、帰かえって来きた。」と大声おおごえで刑場けいじょうの群衆ぐんしゅうにむかって叫さけんだつもりであったが、喉のどがつぶれて嗄しわがれた声こえが幽かすかに出でたばかり、群衆ぐんしゅうは、ひとりとして彼かれの到着とうちゃくに気きがつかない。すでに磔はりつけの柱はしらが高々たかだかと立たてられ、縄なわを打うたれたセリヌンティウスは、徐々じょじょに釣つり上あげられてゆく。メロスはそれを目撃もくげきして最後さいごの勇ゆう、先刻せんこく、濁流だくりゅうを泳およいだように群衆ぐんしゅうを掻かきわけ、掻かきわけ、「私わたしだ、刑吏けいり! 殺ころされるのは、私わたしだ。メロスだ。彼かれを人質ひとじちにした私わたしは、ここにいる!」と、かすれた声こえで精一せいいっぱいに叫さけびながら、ついに磔台はりつけだいに昇のぼり、釣つり上あげられてゆく友ともの両足りょうあしに、齧かじりついた。群衆ぐんしゅうは、どよめいた。あっぱれ。ゆるせ、と口々くちぐちにわめいた。セリヌンティウスの縄なわは、ほどかれたのである。

“Khoan! Không được giết người ấy! Melos đã về! Đúng như lời hứa, ta đã về đây!” — chàng những tưởng mình đã gào lên như thế với đám đông nơi pháp trường, nhưng cổ họng đã vỡ nát, chỉ bật ra một tiếng khàn khàn yếu ớt; trong đám đông không một ai nhận ra chàng đã đến. Cây cột hành hình đã dựng lên sừng sững, Selinuntius bị trói đang từ từ bị kéo lên cao. Chứng kiến cảnh ấy, Melos dốc chút dũng khí cuối cùng, rẽ đám đông mà tiến — rẽ mãi, y như lúc bơi qua dòng nước lũ ban nãy: “Là ta đây, đao phủ! Kẻ phải chết là ta! Là Melos! Kẻ đã bắt anh ấy làm con tin là ta, đang ở đây!” — chàng gào bằng cái giọng khản đặc hết sức bình sinh, rốt cuộc trèo lên đài hành hình, bám riết lấy hai chân người bạn đang bị kéo lên. Đám đông ồ lên chấn động. “Giỏi thay!” “Tha cho anh ta!” — người người gào lên. Dây trói của Selinuntius được cởi ra.

「セリヌンティウス。」メロスは眼めに涙なみだを浮うかべて言いった。「私わたしを殴なぐれ。ちから一いっぱいに頬ほおを殴なぐれ。私わたしは、途中とちゅうで一度いちど、悪わるい夢ゆめを見みた。君きみが若もし私わたしを殴なぐってくれなかったら、私わたしは君きみと抱擁ほうようする資格しかくさえ無ないのだ。殴なぐれ。」セリヌンティウスは、すべてを察さっした様子ようすで首肯うなずき、刑場けいじょう一いっぱいに鳴なり響ひびくほど音高おとたかくメロスの右頬みぎほおを殴なぐった。殴なぐってから優やさしく微笑ほほえみ、「メロス、私わたしを殴なぐれ。同おなじくらい音高おとたかく私わたしの頬ほおを殴なぐれ。私わたしはこの三日みっかの間あいだ、たった一度いちどだけ、ちらと君きみを疑うたがった。生うまれて、はじめて君きみを疑うたがった。君きみが私わたしを殴なぐってくれなければ、私わたしは君きみと抱擁ほうようできない。」メロスは腕うでに唸うなりをつけてセリヌンティウスの頬ほおを殴なぐった。「ありがとう、友ともよ。」二人ふたり同時どうじに言いい、ひしと抱だき合あい、それから嬉うれし泣なきにおいおい声こえを放はなって泣ないた。

“Selinuntius!” Melos rưng rưng nước mắt nói. “Hãy đánh ta đi. Dồn hết sức mà tát vào má ta. Giữa đường, ta đã một lần mơ một giấc mơ xấu xa. Nếu cậu không đánh ta, ta không có tư cách ôm lấy cậu nữa. Đánh đi!” Selinuntius như đã hiểu thấu tất cả, gật đầu, rồi tát vào má phải Melos một cái vang dội khắp pháp trường. Tát xong, anh mỉm cười dịu dàng: “Melos, hãy đánh ta. Hãy tát vào má ta một cái kêu đúng bằng thế. Trong ba ngày qua, chỉ duy nhất một lần, ta đã thoáng nghi ngờ cậu. Lần đầu tiên trong đời ta nghi ngờ cậu. Nếu cậu không đánh ta, ta không thể ôm cậu được.” Melos vung cánh tay vù gió, tát vào má Selinuntius. “Cảm ơn, bạn của ta!” — hai người thốt lên cùng lúc, ôm chầm lấy nhau, rồi cứ thế khóc òa lên hu hu vì sung sướng.

群衆ぐんしゅうの中なかからも、歔欷きょきの声こえが聞きこえた。暴君ぼうくんディオニスは、群衆ぐんしゅうの背後はいごから二人ふたりの様さまを、まじまじと見みつめていたが、やがて静しずかに二人ふたりに近ちかづき、顔かおをあからめて、こう言いった。「おまえらの望のぞみは叶かなったぞ。おまえらは、わしの心こころに勝かったのだ。信実しんじつとは、決けっして空虚くうきょな妄想もうそうではなかった。どうか、わしをも仲間なかまに入いれてくれまいか。どうか、わしの願ねがいを聞きき入いれて、おまえらの仲間なかまの一人ひとりにしてほしい。」どっと群衆ぐんしゅうの間あいだに、歓声かんせいが起おこった。「万歳ばんざい、王様おうさま万歳ばんざい。」

Trong đám đông cũng vang lên những tiếng thổn thức. Bạo chúa Dionys từ phía sau đám đông đăm đăm nhìn cảnh tượng của hai người, rồi lặng lẽ tiến lại gần, mặt đỏ bừng, nói: “Ước nguyện của các ngươi đã thành. Các ngươi đã chiến thắng trái tim ta. Thành tín quả thật không hề là một ảo tưởng rỗng tuếch. Xin các ngươi… hãy cho ta được nhập bọn. Xin hãy nghe lời thỉnh cầu này của ta, cho ta làm một người trong nhóm bạn của các ngươi.” Đám đông ào lên tiếng hoan hô: “Vạn tuế! Đức vua vạn tuế!”

ひとりの少女しょうじょが、緋ひのマントをメロスに捧ささげた。メロスは、まごついた。佳よき友ともは、気きをきかせて教おしえてやった。「メロス、君きみは、まっぱだかじゃないか。早はやくそのマントを着きるがいい。この可愛かわいい娘むすめさんは、メロスの裸体らたいを、皆みんなに見みられるのが、たまらなく口惜くやしいのだ。」勇者ゆうしゃは、ひどく赤面せきめんした。

Một cô bé dâng lên Melos tấm áo choàng đỏ thắm. Melos lúng túng chẳng hiểu gì. Người bạn hiền tinh ý nhắc khéo: “Melos này, cậu đang trần như nhộng đấy. Mau khoác tấm áo choàng ấy vào. Cô bé đáng yêu này không chịu nổi khi thấy tấm thân trần của Melos bị mọi người nhìn thấy đâu.” Người dũng sĩ đỏ mặt tía tai.

(古伝説こでんせつと、シルレルの詩しから。)

(Phóng tác từ truyền thuyết cổ và thơ của Schiller.)

Từ vựng (phần sau)
Từ Cách đọc Nghĩa
身代わり みがわり người thế mạng
信実 しんじつ lòng thành tín
信頼 しんらい sự tin cậy
濁流 だくりゅう dòng nước lũ đục
山賊 さんぞく sơn tặc, cướp núi
正義 せいぎ chính nghĩa
裏切り者 うらぎりもの kẻ phản bội
刑場 けいじょう pháp trường
間に合う まにあう kịp giờ
抱擁 ほうよう cái ôm
Lưu ý bản song ngữ: Đoạn độc thoại tuyệt vọng dài của Melos giữa truyện được lược dịch cô đọng một phần cho dễ theo dõi; nguyên văn đầy đủ có trong file gốc books/03_hashire_merosu_走れメロス.html.
Nguồn văn bản gốc: 太宰治「走れメロス」(1940) — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「太宰治全集3」ちくま文庫、筑摩書房。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.

📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.

Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.

Gửi phản hồi

Trending

Khám phá thêm từ Học tập hiệu quả, thành công dễ dàng.

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc