走れメロス — Chạy đi, Melos!

Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.


太宰治 (Dazai Osamu) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng

メロスは激怒げきどした。かならず、かの邪智暴虐じゃちぼうぎゃくおうのぞかなければならぬと決意けついした。メロスには政治せいじがわからぬ。メロスは、むら牧人ぼくじんである。ふえき、ひつじあそんでくらしてた。けれども邪悪じゃあくたいしては、人一倍ひといちばい敏感びんかんであった。

Melos nổi trận lôi đình. Chàng quyết chí: nhất định phải trừ khử tên vua gian trá bạo tàn kia. Melos chẳng hiểu gì chính trị. Chàng chỉ là một gã chăn cừu trong làng, sống bằng nghề thổi sáo và rong chơi cùng bầy cừu. Nhưng trước cái ác, chàng nhạy cảm gấp bội người thường.

きょう未明みめいメロスはむら出発しゅっぱつし、山越やまこえ、十里じゅうりはなれたのシラクスのまちにやってた。メロスにはちちも、ははい。女房にょうぼうい。十六じゅうろくの、内気うちきいもうと二人暮ふたりぐらしだ。このいもうとは、むら律気りちぎ一牧人いちぼくじんを、近々ちかぢか花婿はなむことしてむかえることになっていた。結婚式けっこんしき間近まぢかかなのである。メロスは、それゆえ、花嫁はなよめ衣裳いしょうやら祝宴しゅくえん御馳走ごちそうやらをいに、はるばるまちにやってたのだ。ず、その品々しなじなあつめ、それからみやこ大路おおじをぶらぶらあるいた。メロスには竹馬ちくばともがあった。セリヌンティウスである。いまのシラクスのまちで、石工いしくをしている。そのともを、これからたずねてみるつもりなのだ。ひさしくわなかったのだから、たずねてくのがたのしみである。

Sáng sớm tinh mơ hôm nay, Melos rời làng, băng đồng vượt núi, đến thành Syracuse cách mười dặm đường. Melos không cha, không mẹ, cũng chẳng vợ con. Chàng sống cùng cô em gái mười sáu tuổi tính tình nhút nhát. Cô em ấy sắp sửa đón một chàng chăn cừu hiền lành đứng đắn trong làng về làm chồng; hôn lễ đã cận kề. Bởi thế Melos mới lặn lội ra thành mua áo cưới cho cô dâu và các món cho tiệc cưới. Mua sắm xong xuôi, chàng thong dong dạo bước trên đại lộ kinh thành. Melos có một người bạn nối khố tên Selinuntius, hiện làm thợ đá ở thành Syracuse này. Chàng định lát nữa ghé thăm bạn. Lâu lắm rồi không gặp, nên chàng háo hức lắm.

あるいているうちにメロスは、まちの様子ようすあやしくおもった。ひっそりしている。もうすでちて、まちのくらいのはあたりまえだが、けれども、なんだか、よるのせいばかりではく、市全体まちぜんたいが、やけにさびしい。のんきなメロスも、だんだん不安ふあんになってた。みちったわかしゅうをつかまえて、なにかあったのか、二年にねんまえにまちたときは、よるでもみんなうたをうたって、まちはにぎやかであったはずだが、と質問しつもんした。わかしゅうは、くびってこたえなかった。しばらくあるいて老爺ろうやい、こんどはもっと、語勢ごせいつよくして質問しつもんした。老爺ろうやこたえなかった。メロスは両手りょうて老爺ろうやのからだをゆすぶって質問しつもんかさねた。老爺ろうやは、あたりをはばかる低声ていせいで、わずかこたえた。「王様おうさまは、ひところします。」「なぜころすのだ。」「悪心あくしんいだいている、というのですが、だれもそんな、悪心あくしんってはりませぬ。」「たくさんのひところしたのか。」「はい、はじめは王様おうさま妹婿いもうとむこさまを。それから、御自身ごじしんのお世嗣よつぎを。それから、いもうとさまを。それから、いもうとさまの御子みこさまを。それから、皇后こうごうさまを。それから、賢臣けんしんのアレキスさまを。」「おどろいた。国王こくおう乱心らんしんか。」「いいえ、乱心らんしんではございませぬ。ひとを、しんずること出来できぬ、というのです。このごろは、臣下しんかこころをも、おうたがいになり、すこしく派手はでくらしをしているものには、人質ひとじちひとりずつすことをめいじてります。御命令ごめいれいこばめば十字架じゅうじかにかけられて、ころされます。きょうは、六人ろくにんころされました。」

Đi được một lát, Melos thấy quang cảnh phố xá có gì đó khả nghi. Vắng lặng quá. Mặt trời đã lặn, phố tối là chuyện thường, nhưng cái vẻ hiu quạnh bao trùm cả thành phố này hình như không chỉ vì trời đêm. Ngay cả Melos vô tư cũng dần thấy bất an. Chàng níu một người trai trẻ gặp trên đường lại hỏi: có chuyện gì xảy ra vậy, hai năm trước tôi đến thành này, ban đêm ai nấy còn ca hát, phố xá tưng bừng lắm kia mà? Người trai trẻ chỉ lắc đầu không đáp. Đi thêm một quãng gặp một cụ già, lần này chàng gặng hỏi gắt hơn. Cụ già không trả lời. Melos túm hai vai cụ lắc mạnh, hỏi dồn. Cụ già dè chừng nhìn quanh, khẽ đáp: “Đức vua… giết người.” — “Vì sao lại giết?” — “Bảo là mang lòng phản trắc. Nhưng nào ai có lòng dạ ấy đâu.” — “Ngài đã giết nhiều người rồi sao?” — “Vâng. Đầu tiên là em rể của đức vua. Rồi đến thái tử của chính ngài. Rồi hoàng muội. Rồi con của hoàng muội. Rồi hoàng hậu. Rồi cả hiền thần Alexis nữa.” — “Kinh khủng. Nhà vua điên loạn rồi chăng?” — “Không, không phải điên loạn. Người ta bảo ngài không còn tin nổi con người nữa. Dạo này ngài nghi ngờ cả lòng dạ bề tôi; nhà ai ăn ở hơi khấm khá là bị lệnh phải nộp một người làm con tin. Kháng lệnh thì bị đóng lên thập giá xử tử. Hôm nay đã có sáu người bị giết rồi.”

いて、メロスは激怒げきどした。「あきれたおうだ。かしてけぬ。」メロスは、単純たんじゅんおとこであった。ものを、背負せおったままで、のそのそ王城おうじょうにはいってった。たちまちかれは、巡邏じゅんら警吏けいり捕縛ほばくされた。調しらべられて、メロスの懐中かいちゅうからは短剣たんけんたので、さわぎがおおきくなってしまった。メロスは、おうまえされた。

Nghe xong, Melos nổi trận lôi đình. “Đúng là hôn quân. Không thể để nó sống!” Melos vốn là người đơn giản. Vẫn cõng nguyên đống đồ mua sắm trên lưng, chàng lù lù đi thẳng vào hoàng thành. Lập tức chàng bị lính tuần bắt giữ. Khám người, thấy trong áo Melos có con dao găm, sự việc càng ầm ĩ. Melos bị điệu ra trước mặt vua.

「この短刀たんとうなにをするつもりであったか。え!」暴君ぼうくんディオニスはしずかに、けれども威厳いげんもっいつめた。そのおうかお蒼白そうはくで、眉間みけんしわは、きざまれたようにふかかった。「まち暴君ぼうくんからすくうのだ。」とメロスはわるびれずにこたえた。「おまえがか?」おうは、憫笑びんしょうした。「仕方しかたいやつじゃ。おまえには、わしの孤独こどくがわからぬ。」「うな!」とメロスは、いきりって反駁はんばくした。「ひとこころうたがうのは、もっとずべき悪徳あくとくだ。おうは、たみ忠誠ちゅうせいをさえうたがってられる。」「うたがうのが、正当せいとう心構こころがまえなのだと、わしにおしえてくれたのは、おまえたちだ。ひとこころは、あてにならない。人間にんげんは、もともと私慾しよくのかたまりさ。しんじては、ならぬ。」暴君ぼうくん落着おちついてつぶやき、ほっと溜息ためいきをついた。「わしだって、平和へいわのぞんでいるのだが。」

“Ngươi định làm gì với con dao này? Nói!” Bạo chúa Dionys tra hỏi, giọng bình thản mà đầy uy quyền. Gương mặt nhà vua trắng bệch, nếp nhăn giữa hai hàng mày hằn sâu như khắc. “Ta định cứu thành này khỏi tay bạo chúa,” Melos đáp, không chút nao núng. “Ngươi ư?” — vua cười khinh miệt. “Đồ vô phương cứu chữa. Ngươi làm sao hiểu nổi nỗi cô độc của ta.” — “Đừng nói nữa!” Melos sôi máu cãi lại. “Nghi ngờ lòng người là thói xấu đáng hổ thẹn nhất. Nhà vua lại đi ngờ vực cả lòng trung của thần dân!” — “Chính lũ các ngươi đã dạy ta rằng nghi ngờ mới là thái độ đúng đắn. Lòng người không thể trông cậy. Con người vốn dĩ là một khối tư dục. Không thể tin được.” Bạo chúa lẩm bẩm điềm nhiên, rồi khẽ buông một tiếng thở dài. “Ta đây cũng mong hòa bình lắm chứ.”

「なんのため平和へいわだ。自分じぶん地位ちいまもためか。」こんどはメロスが嘲笑ちょうしょうした。「つみひところして、なに平和へいわだ。」「だまれ、下賤げせんもの。」おうは、さっとかおげてむくいた。「くちでは、どんなきよらかなことでもえる。わしには、ひと腹綿はらわた奥底おくそこいてならぬ。おまえだって、いまに、はりつけになってから、いてびたってかぬぞ。」「ああ、おう悧巧りこうだ。自惚うぬぼれているがよい。わたしは、ちゃんとぬる覚悟かくごるのに。命乞いのちごいなどけっしてしない。ただ、――」といかけて、メロスはあしもとに視線しせんおと瞬時しゅんじためらい、「ただ、わたしなさけをかけたいつもりなら、処刑しょけいまでに三日間みっかかん日限にちげんあたえてください。たった一人ひとりいもうとに、亭主ていしゅたせてやりたいのです。三日みっかのうちに、わたしむら結婚式けっこんしきげさせ、かならず、ここへかえってます。」

“Hòa bình để làm gì? Để giữ cái ngai của ngươi chắc?” — lần này đến lượt Melos cười nhạo. “Giết người vô tội mà đòi hòa bình cái gì!” — “Câm mồm, quân hạ tiện!” vua ngẩng phắt mặt lên đáp trả. “Miệng lưỡi thì nói gì thanh cao chẳng được. Còn ta, ta nhìn thấu tận đáy ruột gan con người. Cả ngươi nữa, đợi lúc bị đóng lên thập giá rồi có khóc lóc van xin ta cũng chẳng nghe đâu.” — “Chao ôi, đức vua khôn ngoan thật. Cứ việc tự đắc đi. Ta đã sẵn sàng chết. Quyết không van xin tha mạng. Chỉ có điều—” Melos ngập ngừng, cụp mắt nhìn xuống chân trong thoáng chốc, “—chỉ xin, nếu ngài còn chút lòng thương, hãy cho ta ba ngày trước khi hành hình. Ta muốn lo cho đứa em gái duy nhất một tấm chồng. Trong ba ngày ấy, ta sẽ về làng cho chúng làm lễ cưới, rồi nhất định quay lại đây.”

「ばかな。」と暴君ぼうくんは、しわがれたこえひくわらった。「とんでもないうそうわい。がした小鳥ことりかえってるというのか。」「そうです。かえってるのです。」メロスは必死ひっしった。「わたし約束やくそくまもります。わたしを、三日間みっかかんだけゆるしてください。いもうとが、わたしかえりをっているのだ。そんなにわたししんじられないならば、よろしい、このまちにセリヌンティウスという石工いしくがいます。わたし無二むに友人ゆうじんだ。あれを、人質ひとじちとしてここにいてこう。わたしげてしまって、三日目みっかめ日暮ひぐれまで、ここにかえってなかったら、あの友人ゆうじんころしてください。たのむ、そうしてください。」

“Ngu xuẩn,” bạo chúa cười khàn giọng. “Nói láo không biết ngượng. Con chim đã sổ lồng mà đòi bay về ư?” — “Đúng vậy. Sẽ quay về.” Melos khăng khăng đến cùng. “Ta giữ lời hứa. Chỉ xin tha cho ta đúng ba ngày. Em gái ta đang đợi ta về. Nếu ngài không tin ta đến vậy thì được — trong thành này có người thợ đá tên Selinuntius, bạn chí cốt có một không hai của ta. Ta sẽ để anh ấy ở lại đây làm con tin. Nếu ta trốn biệt, đến hoàng hôn ngày thứ ba mà không quay lại, ngài cứ thắt cổ người bạn ấy. Xin ngài, hãy làm như thế.”

Từ vựng (phần đầu)
Từ Cách đọc Nghĩa
激怒 げきど nổi trận lôi đình
暴君 ぼうくん bạo chúa
人質 ひとじち con tin
疑う うたがう nghi ngờ
覚悟 かくご sự sẵn sàng đón nhận (cái chết…)
命乞い いのちごい van xin tha mạng
処刑 しょけい hành hình
約束を守る やくそくをまもる giữ lời hứa
はりつけ hình phạt đóng lên thập giá

それをいておうは、残虐ざんぎゃく気持きもちで、そっと北叟笑ほくそえんだ。生意気なまいきなことをうわい。どうせかえってないにきまっている。このうそつきにだまされたりして、はなしてやるのも面白おもしろい。そうして身代みがわりのおとこを、三日目みっかめころしてやるのも気味きみがいい。ひとは、これだからしんじられぬと、わしはかなしいかおして、その身代みがわりのおとこ磔刑たっけいしょしてやるのだ。なかの、正直者しょうじきものとかいう奴輩やつばらにうんとせつけてやりたいものさ。「ねがいを、いた。その身代みがわりをぶがよい。三日目みっかめには日没にちぼつまでにかえってい。おくれたら、その身代みがわりを、きっところすぞ。ちょっとおくれてるがいい。おまえのつみは、永遠えいえんにゆるしてやろうぞ。」「なに、なにをおっしゃる。」「はは。いのちが大事だいじだったら、おくれてい。おまえのこころは、わかっているぞ。」メロスは口惜くやしく、地団駄じだんだんだ。ものもいたくなくなった。

Nghe vậy, nhà vua thầm đắc ý một cách tàn nhẫn. Ăn nói ngông cuồng gớm. Đằng nào nó cũng chẳng quay lại. Giả vờ bị thằng dối trá này lừa mà thả nó ra, kể cũng hay. Rồi đến ngày thứ ba đem thằng thế mạng ra giết, càng khoái. Ta sẽ làm bộ mặt buồn rầu mà xử giảo thằng thế mạng ấy, rằng: đấy, con người là thế, không tin được đâu. Phải cho cái lũ tự xưng “người chính trực” trên đời này sáng mắt ra. “Ta chuẩn y lời thỉnh cầu. Gọi kẻ thế mạng ấy đến đi. Ngày thứ ba, phải về trước khi mặt trời lặn. Trễ hẹn, kẻ thế mạng chắc chắn bị giết. Mà ngươi cứ trễ một chút cũng hay. Tội của ngươi, ta sẽ vĩnh viễn xá cho.” — “Gì… ngài nói gì vậy!” — “Ha ha. Nếu tiếc mạng thì cứ về trễ. Lòng dạ ngươi, ta rõ cả rồi.” Melos uất đến giậm chân bành bạch. Chàng không buồn nói thêm lời nào nữa.

竹馬ちくばとも、セリヌンティウスは、深夜しんや王城おうじょうされた。暴君ぼうくんディオニスの面前めんぜんで、ともともは、二年にねんぶりで相逢あいあうた。メロスは、とも一切いっさい事情じじょうかたった。セリヌンティウスは無言むごん首肯うなずき、メロスをひしときしめた。ともともあいだは、それでよかった。セリヌンティウスは、縄打なわうたれた。メロスは、すぐに出発しゅっぱつした。初夏しょか満天まんてんほしである。

Người bạn nối khố Selinuntius bị triệu vào hoàng thành lúc nửa đêm. Trước mặt bạo chúa Dionys, đôi bạn hiền gặp lại nhau sau hai năm xa cách. Melos kể cho bạn nghe hết đầu đuôi. Selinuntius lặng lẽ gật đầu, ôm chặt lấy Melos. Giữa bạn với bạn, thế là đủ. Selinuntius bị trói lại. Melos lập tức lên đường. Đầu hạ, trời đầy sao.

メロスはその一睡いっすいもせず十里じゅうりみちいそぎにいそいで、むら到着とうちゃくしたのは、あく午前ごぜんすでたかのぼって、村人むらびとたちは仕事しごとをはじめていた。メロスの十六じゅうろくいもうとも、きょうはあにかわりに羊群ようぐんばんをしていた。よろめいてあるいてあにの、疲労困憊ひろうこんぱい姿すがたつけておどろいた。そうして、うるさくあに質問しつもんびせた。「なんでもい。」メロスは無理むりわらおうとつとめた。「まち用事ようじのこしてた。またすぐまちかなければならぬ。あす、おまえの結婚式けっこんしきげる。はやいほうがよかろう。」いもうとほおをあからめた。「うれしいか。綺麗きれい衣裳いしょうってた。さあ、これからって、むらひとたちにらせてい。結婚式けっこんしきは、あすだと。」

Đêm ấy Melos không chợp mắt lấy một giây, cắm cúi rảo bước hết mười dặm đường; về đến làng thì đã sáng hôm sau, mặt trời lên cao, dân làng đã ra đồng làm lụng. Cô em gái mười sáu tuổi hôm nay thay anh trông bầy cừu. Thấy dáng anh trai loạng choạng lê về, mệt lử tơi tả, cô hoảng hốt, dồn dập hỏi han. “Không có gì đâu,” Melos gắng gượng cười. “Anh còn để dở việc ngoài thành, lát phải đi ngay. Ngày mai làm lễ cưới cho em. Sớm chừng nào tốt chừng ấy.” Cô em đỏ ửng má. “Vui không? Anh mua cả áo cưới đẹp về rồi đây. Nào, đi báo cho dân làng đi: lễ cưới là ngày mai.”

メロスは、また、よろよろとあるし、いえかえって神々かみがみ祭壇さいだんかざり、祝宴しゅくえんせき調ととのえ、もなくゆかたおし、呼吸こきゅうもせぬくらいのふかねむりにちてしまった。めたのはよるだった。メロスはきてすぐ、花婿はなむこいえおとずれた。そうして、すこ事情じじょうがあるから、結婚式けっこんしき明日あすにしてくれ、とたのんだ。婿むこ牧人ぼくじんおどろき、それはいけない、こちらにはなん仕度したく出来できていない、葡萄ぶどう季節きせつまでってくれ、とこたえた。メロスは、つことは出来できぬ、どうか明日あすにしてくれたまえ、とさらしてたのんだ。婿むこ牧人ぼくじん頑強がんきょうであった。なかなか承諾しょうだくしてくれない。夜明よあけまで議論ぎろんをつづけて、やっと、どうにか婿むこをなだめ、すかして、せた。

Melos lại loạng choạng cất bước, về nhà trang hoàng bàn thờ các vị thần, sửa soạn chỗ bày tiệc cưới, rồi chẳng mấy chốc đổ vật xuống sàn, chìm vào giấc ngủ sâu đến tưởng như ngừng thở. Tỉnh dậy thì trời đã tối. Melos dậy là đến ngay nhà chú rể, nhờ vả: vì có chút việc riêng, hãy cho làm lễ cưới vào ngày mai. Chàng rể chăn cừu hoảng hốt: thế thì không được, bên này chưa chuẩn bị được gì cả, xin đợi đến mùa nho. Melos ép tới: không đợi được, xin anh, cứ cho ngày mai đi. Chàng rể cũng cứng đầu chẳng kém, mãi không chịu ưng. Hai bên tranh cãi đến tận rạng sáng, cuối cùng Melos mới dỗ dành, nài nỉ, thuyết phục được chú rể xuôi lòng.

結婚式けっこんしきは、真昼まひるおこなわれた。新郎新婦しんろうしんぷの、神々かみがみへの宣誓せんせいんだころ、黒雲くろくもそらおおい、ぽつりぽつりあめし、やがて車軸しゃじくながすような大雨おおあめとなった。祝宴しゅくえん列席れっせきしていた村人むらびとたちは、なに不吉ふきつなものをかんじたが、それでも、めいめい気持きもちきたて、せまいえなかで、むんむんあついのもこらえ、陽気ようきうたをうたい、った。メロスも、満面まんめん喜色きしょくたたえ、しばらくは、おうとのあの約束やくそくをさえわすれていた。祝宴しゅくえんは、よるはいっていよいよみだはなやかになり、人々ひとびとは、そと豪雨ごううまったにしなくなった。メロスは、一生いっしょうこのままここにいたい、とおもった。このひとたちと生涯しょうがいくらしてきたいとねがったが、いまは、自分じぶんのからだで、自分じぶんのものではい。ままならぬことである。メロスは、わが鞭打むちうち、ついに出発しゅっぱつ決意けついした。あすの日没にちぼつまでには、まだ十分じゅうぶんときる。ちょっと一眠ひとねむりして、それからすぐに出発しゅっぱつしよう、とかんがえた。

Lễ cưới cử hành giữa trưa. Khi cô dâu chú rể vừa tuyên thệ trước các vị thần xong, mây đen kéo kín trời, mưa bắt đầu lộp độp, rồi chẳng mấy chốc thành trận mưa như trút nước. Dân làng dự tiệc cảm thấy có gì đó chẳng lành, nhưng ai nấy vẫn tự vực tinh thần, chịu cái nóng hầm hập trong căn nhà chật, hát hò vỗ tay rôm rả. Melos cũng mặt mày rạng rỡ, trong chốc lát quên cả lời hẹn với nhà vua. Tiệc về đêm càng tưng bừng náo nhiệt, chẳng ai buồn để ý trận mưa lớn ngoài kia nữa. Melos thầm ước được ở lại đây như thế này trọn đời, sống mãi bên những con người hiền hậu này — nhưng lúc này, tấm thân chàng không còn thuộc về chàng nữa. Muốn cũng chẳng được. Melos tự quất roi vào mình, cuối cùng quyết chí lên đường. Đến hoàng hôn ngày mai vẫn còn khối thời gian. Chàng tính: hãy chợp mắt một lát, rồi đi ngay.

めたのはあく薄明はくめいころである。メロスはき、南無三なむさん寝過ねすしたか、いや、まだまだ大丈夫だいじょうぶ、これからすぐに出発しゅっぱつすれば、約束やくそく刻限こくげんまでには十分じゅうぶんう。きょうは是非ぜひとも、あのおうに、ひと信実しんじつそんするところをせてやろう。そうしてわらってはりつけだいのぼってやる。メロスは、悠々ゆうゆう身仕度みじたくをはじめた。あめも、いくぶん小降こぶりになっている様子ようすである。身仕度みじたく出来できた。さて、メロスは、ぶるんと両腕りょううでおおきくって、雨中うちゅうごとはした。

Chàng tỉnh dậy vào lúc tờ mờ sáng hôm sau. Melos bật dậy — trời đất, ngủ quên rồi sao? Không, vẫn còn kịp chán. Xuất phát ngay bây giờ thì vẫn dư sức về trước giờ hẹn. Hôm nay nhất định phải cho tên vua kia thấy lòng thành tín của con người là có thật. Rồi cứ thế mỉm cười mà bước lên đài hành hình. Melos ung dung sửa soạn. Mưa xem chừng cũng đã ngớt phần nào. Sửa soạn xong xuôi, Melos vung mạnh hai cánh tay, lao vút vào màn mưa như một mũi tên.

わたしは、今宵こよいころされる。ころされるためはしるのだ。身代みがわりのともすくためはしるのだ。おう奸佞邪智かんねいじゃちやぶためはしるのだ。はしらなければならぬ。そうして、わたしころされる。わかときから名誉めいよまもれ。さらば、ふるさと。わかいメロスは、つらかった。幾度いくどか、ちどまりそうになった。えい、えいと大声おおごえげて自身じしんしかりながらはしった。むらて、横切よこぎり、もりをくぐりけ、隣村となりむらいたころには、あめみ、たかのぼって、そろそろあつくなってた。

Đêm nay, ta sẽ bị giết. Ta chạy là để bị giết. Ta chạy để cứu người bạn đang thế mạng. Ta chạy để đập tan lòng gian trá xảo quyệt của nhà vua. Phải chạy. Rồi ta sẽ bị giết. Hãy giữ lấy danh dự từ thuở thiếu thời. Vĩnh biệt, quê hương! Chàng Melos trẻ tuổi đau đớn lắm. Mấy lần chàng suýt dừng chân. Chàng vừa chạy vừa hét lớn “Ây! Ây!” tự quát mắng chính mình. Ra khỏi làng, băng qua đồng, luồn qua rừng; đến làng bên thì mưa đã tạnh, mặt trời lên cao, trời bắt đầu oi.

ぶらぶらあるいて二里にり三里さんりき、そろそろ全里程ぜんりていなかばに到達とうたつしたころっていた災難さいなん、メロスのあしは、はたと、とまった。よ、前方ぜんぽうかわを。きのうの豪雨ごううやま水源地すいげんち氾濫はんらんし、濁流だくりゅう滔々とうとう下流かりゅうあつまり、猛勢もうせい一挙いっきょはし破壊はかいし、どうどうとひびきをあげる激流げきりゅうが、木葉微塵こっぱみじん橋桁はしげたばしていた。かれ茫然ぼうぜんと、ちすくんだ。メロスは川岸かわぎしにうずくまり、男泣おとこなきにきながらゼウスにげて哀願あいがんした。「ああ、しずめたまえ、くるながれを! とき刻々こくこくぎてきます。太陽たいようすで真昼時まひるどきです。あれがしずんでしまわぬうちに、王城おうじょうくことが出来できなかったら、あの友達ともだちが、わたしのためにぬのです。」

Chàng thong thả đi hai dặm, ba dặm; đến khi sắp được nửa quãng đường thì tai họa từ trên trời rơi xuống — chân Melos khựng phắt lại. Hãy nhìn dòng sông phía trước kia! Trận mưa lớn hôm qua khiến đầu nguồn trên núi vỡ tràn, dòng nước đục cuồn cuộn dồn về hạ lưu, hung hãn quật sập cây cầu trong một đòn; dòng lũ gầm réo ầm ầm đã hất tung xà cầu vỡ vụn thành trăm mảnh. Chàng chết lặng, đứng như trời trồng. Melos sụp xuống bên bờ sông, khóc rống lên như một người đàn ông chỉ biết khóc, giơ tay lên trời van nài thần Zeus: “Hỡi thần, xin dẹp yên dòng nước điên cuồng này! Thời gian đang trôi từng khắc. Mặt trời đã đứng bóng. Nếu con không tới được hoàng thành trước khi mặt trời kia lặn, người bạn hiền của con sẽ phải chết vì con!”

濁流だくりゅうは、メロスのさけびをせせらわらごとく、ますますはげしくおどくるう。なみなみみ、き、あおて、そうしてときは、刻一刻こくいっこくえてく。いまはメロスも覚悟かくごした。およるよりほかい。ああ、神々かみがみ照覧しょうらんあれ! 濁流だくりゅうにもけぬあいまこと偉大いだいちからを、いまこそ発揮はっきしてせる。メロスは、ざんぶとながれにみ、百匹ひゃっぴき大蛇だいじゃのようにのたくるなみ相手あいてに、必死ひっし闘争とうそう開始かいしした。満身まんしんちからうでにこめて、渦巻うずまきずるながれを、なんのこれしきときわけきわけ、めくらめっぽう獅子奮迅ししふんじんひと姿すがたには、かみあわれとおもったか、ついに憐愍れんびんれてくれた。ながされつつも、見事みごと対岸たいがん樹木じゅもくみきに、すがりつくこと出来できたのである。ありがたい。メロスはうまのようにおおきな胴震どうぶるいをひとつして、すぐにまたきをいそいだ。一刻いっこくといえども、むだには出来できない。すで西にしかたむきかけている。

Dòng nước đục như cười khẩy trước tiếng gào của Melos, càng lồng lộn dữ dội hơn. Sóng nuốt sóng, cuộn xoáy, chồm lên; còn thời gian thì cứ từng khắc từng khắc tan biến. Giờ thì Melos cũng đã quyết: chỉ còn cách bơi qua. Hỡi các vị thần, hãy chứng giám! Sức mạnh vĩ đại của tình yêu và lòng thành không thua dòng nước lũ — chính lúc này ta sẽ phô bày cho mà xem. Melos lao ùm xuống dòng nước, mở màn trận tử chiến với những con sóng đang quằn quại điên cuồng như trăm con mãng xà. Chàng dồn toàn lực vào đôi tay, rẽ sóng mà bơi, gạt phăng dòng nước xô đẩy, cuộn xoáy, kéo ghì — “thứ này đã là gì!” Trước hình ảnh người con của loài người liều mình xông pha như sư tử ấy, có lẽ thần linh cũng động lòng thương, rốt cuộc đã rủ lòng trắc ẩn: dù bị cuốn trôi, chàng vẫn bám được ngoạn mục vào thân cây bên bờ đối diện. Đội ơn trời! Melos rùng mình một cái thật mạnh như con ngựa giũ nước, rồi lập tức tiếp tục rảo bước. Không thể phí hoài lấy một khắc. Mặt trời đã ngả về tây.

ぜいぜいあら呼吸こきゅうをしながらとうげをのぼり、のぼりって、ほっとしたとき突然とつぜんまえ一隊いったい山賊さんぞくおどた。「て。」「なにをするのだ。わたししずまぬうちに王城おうじょうかなければならぬ。はなせ。」「どっこいはなさぬ。ちもの全部ぜんぶいてけ。」「わたしにはいのちのほかにはなにい。その、たったひとつのいのちも、これからおうにくれてやるのだ。」「その、いのちがしいのだ。」「さては、おう命令めいれいで、ここでわたしせしていたのだな。」山賊さんぞくたちは、ものもわず一斉いっせい棍棒こんぼうげた。メロスはひょいと、からだをげ、飛鳥ひちょうごと身近みぢかの一人ひとりおそいかかり、その棍棒こんぼううばって、「どくだが正義せいぎのためだ!」と猛然もうぜん一撃いちげき、たちまち、三人さんにんなぐたおし、のこもののひるむすきに、さっさとはしってとうげくだった。

Thở hồng hộc, chàng leo lên đèo; vừa lên tới đỉnh, thở phào một cái, thì đột nhiên một toán sơn tặc nhảy xổ ra trước mặt. “Đứng lại!” — “Các ngươi làm gì vậy? Ta phải đến hoàng thành trước khi mặt trời lặn. Buông ra!” — “Còn lâu. Để lại hết đồ đạc rồi hẵng đi.” — “Ta chẳng có gì ngoài cái mạng. Mà cái mạng duy nhất ấy, ta cũng sắp đem dâng cho nhà vua rồi.” — “Bọn ta cần chính cái mạng ấy đấy.” — “Ra là các ngươi phụng mệnh nhà vua, mai phục ta ở đây phải không!” Toán cướp chẳng nói chẳng rằng, nhất loạt vung gậy. Melos thoắt cái cúi rạp người, như cánh chim lao vụt vào tên gần nhất, đoạt lấy cây gậy: “Đáng tiếc cho các ngươi, nhưng đây là vì chính nghĩa!” — chàng giáng đòn dữ dội, loáng cái quật ngã ba tên; thừa lúc những tên còn lại chùn bước, chàng ba chân bốn cẳng chạy xuống đèo.

一気いっきとうげりたが、流石さすが疲労ひろうし、おりから午後ごご灼熱しゃくねつ太陽たいようがまともに、かっとってて、メロスは幾度いくどとなく眩暈めまいかんじ、これではならぬ、となおしては、よろよろ三歩さんぽあるいて、ついに、がくりとひざった。あがこと出来できぬのだ。てんあおいで、くやしきにした。路傍ろぼう草原くさはらにごろりところがった。身体しんたい疲労ひろうすれば、精神せいしんともにやられる。もう、どうでもいいという、勇者ゆうしゃ不似合ふにあいな不貞腐ふてくされた根性こんじょうが、こころすみ巣喰すくった。わたしは、これほど努力どりょくしたのだ。約束やくそくやぶこころは、みじんもかった。(中略ちゅうりゃく)セリヌンティウスよ、ゆるしてくれ。きみは、いつでもわたししんじた。わたしきみを、あざむかなかった。わたしたちは、本当ほんとうともともであったのだ。正義せいぎだの、信実しんじつだの、あいだの、かんがえてみれば、くだらない。ひところして自分じぶんきる。それが人間世界にんげんせかい定法じょうほうではなかったか。ああ、なにもかも、ばかばかしい。わたしは、みにく裏切うらぎものだ。どうとも、勝手かってにするがよい。やんぬるかな。――四肢ししして、うとうと、まどろんでしまった。

Chàng lao một mạch xuống hết con đèo, nhưng đến nước này thì kiệt sức thật; lại đúng lúc mặt trời gay gắt buổi chiều chiếu thẳng vào người, Melos choáng váng liên hồi. “Không được, không thể thế này” — chàng gượng dậy tinh thần, lảo đảo lê thêm hai ba bước, rồi cuối cùng khuỵu gối sụp xuống. Không đứng dậy nổi nữa. Chàng ngửa mặt lên trời, khóc tấm tức vì uất hận, rồi lăn kềnh ra vệ cỏ ven đường. Thân xác kiệt quệ thì tinh thần cũng sụp đổ theo. Một thứ tâm địa bất cần đời, hoàn toàn không xứng với người dũng sĩ, len lỏi làm tổ trong góc tim chàng: Ta đã cố gắng đến nhường này. Ta chưa từng có lấy một mảy may ý định bội ước… Selinuntius ơi, tha thứ cho ta. Cậu lúc nào cũng tin ta. Ta cũng chưa từng dối cậu. Chúng ta đã thật sự là đôi bạn hiền của nhau… Mà chính nghĩa, thành tín, tình yêu — nghĩ kỹ lại, thảy đều vớ vẩn. Giết kẻ khác để mình được sống, đó chẳng phải luật đời của thế giới con người hay sao. Ôi, mọi thứ đều nhảm nhí hết. Ta là một kẻ phản bội xấu xa. Muốn ra sao thì ra. Thế là hết! — Chàng buông xuôi cả tứ chi, thiếp đi lúc nào không hay.

ふとみみに、潺々せんせんみずながれるおときこえた。そっとあたまをもたげ、いきんでみみをすました。すぐあしもとで、みずながれているらしい。よろよろあがって、ると、いわ裂目さけめから滾々こんこんと、なにちいさくささやきながら清水しみずているのである。そのいずみまれるようにメロスはをかがめた。みず両手りょうてすくって、ひとくちんだ。ほうとなが溜息ためいきて、ゆめからめたようながした。あるける。こう。肉体にくたい疲労ひろう恢復かいふくともに、わずかながら希望きぼううまれた。義務ぎむ遂行すいこう希望きぼうである。わがころして、名誉めいよまも希望きぼうである。わたしを、っているひとがあるのだ。すこしもうたがわず、しずかに期待きたいしてくれているひとがあるのだ。わたしは、しんじられている。わたしは、信頼しんらいむくいなければならぬ。いまはただその一事いちじだ。はしれ! メロス。

Bỗng tai chàng nghe róc rách tiếng nước chảy. Chàng khẽ ngẩng đầu, nín thở lắng nghe. Hình như ngay dưới chân có nước. Chàng lảo đảo gượng dậy nhìn: từ khe nứt của tảng đá, một dòng nước trong đang tuôn ra cuồn cuộn, thì thầm khe khẽ. Như bị hút vào dòng suối ấy, Melos cúi rạp mình, vốc nước bằng hai tay, uống một ngụm. Một hơi thở dài buột ra, chàng thấy như vừa tỉnh khỏi cơn mộng. Đi được rồi. Đi thôi. Thân xác hồi phục thì hy vọng cũng nhen lên, dù nhỏ nhoi: hy vọng hoàn thành bổn phận, hy vọng lấy cái chết của thân này mà giữ trọn danh dự. Có người đang đợi ta. Có người không mảy may nghi ngờ, đang lặng lẽ trông mong ta. Ta đang được tin tưởng. Ta phải đáp đền lòng tin ấy. Giờ đây chỉ còn duy nhất điều đó thôi. Chạy đi! Melos!

路行みちゆひとしのけ、ねとばし、メロスはくろかぜのようにはしった。野原のはら酒宴しゅえんの、その宴席えんせきのまっただなかけ、酒宴しゅえんひとたちを仰天ぎょうてんさせ、いぬとばし、小川おがわえ、すこしずつしずんでゆく太陽たいようの、十倍じゅうばいはやはしった。一団いちだん旅人たびびとっとすれちがった瞬間しゅんかん不吉ふきつ会話かいわ小耳こみみにはさんだ。「いまごろは、あのおとこも、はりつけにかかっているよ。」ああ、そのおとこ、そのおとこのためにわたしは、いまこんなにはしっているのだ。そのおとこなせてはならない。いそげ、メロス。おくれてはならぬ。メロスは、いまは、ほとんど全裸体ぜんらたいであった。呼吸こきゅう出来できず、二度にど三度さんどくちからた。える。はるかむこうにちいさく、シラクスのまち塔楼とうろうえる。塔楼とうろうは、夕陽ゆうひけてきらきらひかっている。

Melos xô dạt người đi đường, hất tung tất cả, chạy như một cơn gió đen. Chàng băng xuyên qua chính giữa một đám tiệc rượu ngoài đồng làm cả bọn kinh hồn, đá văng con chó, nhảy vọt qua con suối, chạy nhanh gấp mười lần vầng mặt trời đang từ từ lặn xuống. Khoảnh khắc vụt lướt qua một đoàn lữ khách, chàng nghe lỏm được câu chuyện gở: “Giờ này chắc gã ấy cũng đang bị đóng lên thập giá rồi.” Ôi, chính vì con người ấy, con người ấy mà ta đang chạy đến thế này đây! Không được để người ấy chết. Mau lên, Melos! Không được trễ! Melos lúc này gần như trần truồng. Thở không nổi nữa, đôi ba lần máu trào ra khỏi miệng. Thấy rồi. Xa tít đằng kia, nhỏ xíu — tòa tháp canh của thành Syracuse. Tòa tháp đang lấp lánh trong ánh chiều tà.

「ああ、メロスさま。」うめくようなこえが、かぜともきこえた。「だれだ。」メロスははしりながらたずねた。「フィロストラトスでございます。貴方あなたのお友達ともだちセリヌンティウスさま弟子でしでございます。」そのわか石工いしくも、メロスのあとについてはしりながらさけんだ。「もう、駄目だめでございます。むだでございます。はしるのは、やめてください。もう、あのかたをおたすけになることは出来できません。」「いや、まだしずまぬ。」「ちょうどいま、あのかた死刑しけいになるところです。ああ、あなたはおそかった。おうらみもうします。ほんのすこし、もうちょっとでも、はやかったなら!」「いや、まだしずまぬ。」メロスはむねけるおもいで、あかおおきい夕陽ゆうひばかりをつめていた。はしるよりほかい。「それだから、はしるのだ。しんじられているからはしるのだ。う、わぬは問題もんだいでないのだ。ひといのち問題もんだいでないのだ。わたしは、なんだか、もっとおそろしくおおきいもののためはしっているのだ。ついてい! フィロストラトス。」

“Ôi, ngài Melos!” — một giọng nói như rên rỉ theo gió vẳng đến. “Ai đấy?” Melos vừa chạy vừa hỏi. “Philostratus đây ạ. Đệ tử của ngài Selinuntius, bạn của ngài.” Người thợ đá trẻ vừa chạy theo sau Melos vừa gào: “Không kịp nữa rồi. Vô ích thôi. Xin ngài đừng chạy nữa. Không còn cứu được người ấy nữa đâu.” — “Không, mặt trời chưa lặn.” — “Ngay lúc này người ta đang hành hình ngài ấy. Ôi, ngài trễ mất rồi. Tôi oán ngài lắm. Giá mà sớm hơn, chỉ một chút, một chút nữa thôi!” — “Không, mặt trời chưa lặn!” Melos ruột gan như xé, mắt chỉ dán chặt vào vầng mặt trời chiều đỏ ối. Ngoài chạy ra chẳng còn cách nào khác. “Chính vì thế mà ta chạy. Vì được tin tưởng nên ta chạy. Kịp hay không kịp không phải là vấn đề. Mạng người cũng không phải là vấn đề. Ta đang chạy vì một điều gì đó lớn lao và đáng sợ hơn thế nhiều. Theo ta, Philostratus!”

うにやおよぶ。まだしずまぬ。最後さいご死力しりょくつくして、メロスははしった。メロスのあたまは、からっぽだ。何一なにひとかんがえていない。ただ、わけのわからぬおおきなちからにひきずられてはしった。は、ゆらゆら地平線ちへいせんぼっし、まさに最後さいご一片いっぺん残光ざんこうも、えようとしたとき、メロスは疾風しっぷうごと刑場けいじょう突入とつにゅうした。った。

Còn phải nói. Mặt trời vẫn chưa lặn. Vắt kiệt chút tử lực cuối cùng, Melos chạy. Đầu óc Melos trống rỗng, không nghĩ được bất cứ điều gì, chỉ bị một sức mạnh khổng lồ không tên lôi tuột đi mà chạy. Mặt trời chập chờn chìm xuống đường chân trời, và đúng khoảnh khắc mảnh sáng tàn cuối cùng sắp tắt lịm, Melos như cơn cuồng phong xông thẳng vào pháp trường. Kịp rồi!

て。そのひところしてはならぬ。メロスがかえってた。約束やくそくのとおり、いま、かえってた。」と大声おおごえ刑場けいじょう群衆ぐんしゅうにむかってさけんだつもりであったが、のどがつぶれてしわがれたこえかすかにたばかり、群衆ぐんしゅうは、ひとりとしてかれ到着とうちゃくがつかない。すでにはりつけはしら高々たかだかてられ、なわたれたセリヌンティウスは、徐々じょじょげられてゆく。メロスはそれを目撃もくげきして最後さいごゆう先刻せんこく濁流だくりゅうおよいだように群衆ぐんしゅうきわけ、きわけ、「わたしだ、刑吏けいり! ころされるのは、わたしだ。メロスだ。かれ人質ひとじちにしたわたしは、ここにいる!」と、かすれたこえ精一せいいっぱいにさけびながら、ついに磔台はりつけだいのぼり、げられてゆくとも両足りょうあしに、かじりついた。群衆ぐんしゅうは、どよめいた。あっぱれ。ゆるせ、と口々くちぐちにわめいた。セリヌンティウスのなわは、ほどかれたのである。

“Khoan! Không được giết người ấy! Melos đã về! Đúng như lời hứa, ta đã về đây!” — chàng những tưởng mình đã gào lên như thế với đám đông nơi pháp trường, nhưng cổ họng đã vỡ nát, chỉ bật ra một tiếng khàn khàn yếu ớt; trong đám đông không một ai nhận ra chàng đã đến. Cây cột hành hình đã dựng lên sừng sững, Selinuntius bị trói đang từ từ bị kéo lên cao. Chứng kiến cảnh ấy, Melos dốc chút dũng khí cuối cùng, rẽ đám đông mà tiến — rẽ mãi, y như lúc bơi qua dòng nước lũ ban nãy: “Là ta đây, đao phủ! Kẻ phải chết là ta! Là Melos! Kẻ đã bắt anh ấy làm con tin là ta, đang ở đây!” — chàng gào bằng cái giọng khản đặc hết sức bình sinh, rốt cuộc trèo lên đài hành hình, bám riết lấy hai chân người bạn đang bị kéo lên. Đám đông ồ lên chấn động. “Giỏi thay!” “Tha cho anh ta!” — người người gào lên. Dây trói của Selinuntius được cởi ra.

「セリヌンティウス。」メロスはなみだうかべてった。「わたしなぐれ。ちからいっぱいにほおなぐれ。わたしは、途中とちゅう一度いちどわるゆめた。きみわたしなぐってくれなかったら、わたしきみ抱擁ほうようする資格しかくさえいのだ。なぐれ。」セリヌンティウスは、すべてをさっした様子ようす首肯うなずき、刑場けいじょういっぱいにひびくほど音高おとたかくメロスの右頬みぎほおなぐった。なぐってからやさしく微笑ほほえみ、「メロス、わたしなぐれ。おなじくらい音高おとたかわたしほおなぐれ。わたしはこの三日みっかあいだ、たった一度いちどだけ、ちらときみうたがった。うまれて、はじめてきみうたがった。きみわたしなぐってくれなければ、わたしきみ抱擁ほうようできない。」メロスはうでうなりをつけてセリヌンティウスのほおなぐった。「ありがとう、ともよ。」二人ふたり同時どうじい、ひしとい、それからうれきにおいおいこえはなっていた。

“Selinuntius!” Melos rưng rưng nước mắt nói. “Hãy đánh ta đi. Dồn hết sức mà tát vào má ta. Giữa đường, ta đã một lần mơ một giấc mơ xấu xa. Nếu cậu không đánh ta, ta không có tư cách ôm lấy cậu nữa. Đánh đi!” Selinuntius như đã hiểu thấu tất cả, gật đầu, rồi tát vào má phải Melos một cái vang dội khắp pháp trường. Tát xong, anh mỉm cười dịu dàng: “Melos, hãy đánh ta. Hãy tát vào má ta một cái kêu đúng bằng thế. Trong ba ngày qua, chỉ duy nhất một lần, ta đã thoáng nghi ngờ cậu. Lần đầu tiên trong đời ta nghi ngờ cậu. Nếu cậu không đánh ta, ta không thể ôm cậu được.” Melos vung cánh tay vù gió, tát vào má Selinuntius. “Cảm ơn, bạn của ta!” — hai người thốt lên cùng lúc, ôm chầm lấy nhau, rồi cứ thế khóc òa lên hu hu vì sung sướng.

群衆ぐんしゅうなかからも、歔欷きょきこえきこえた。暴君ぼうくんディオニスは、群衆ぐんしゅう背後はいごから二人ふたりさまを、まじまじとつめていたが、やがてしずかに二人ふたりちかづき、かおをあからめて、こうった。「おまえらののぞみはかなったぞ。おまえらは、わしのこころったのだ。信実しんじつとは、けっして空虚くうきょ妄想もうそうではなかった。どうか、わしをも仲間なかまれてくれまいか。どうか、わしのねがいをれて、おまえらの仲間なかま一人ひとりにしてほしい。」どっと群衆ぐんしゅうあいだに、歓声かんせいおこった。「万歳ばんざい王様おうさま万歳ばんざい。」

Trong đám đông cũng vang lên những tiếng thổn thức. Bạo chúa Dionys từ phía sau đám đông đăm đăm nhìn cảnh tượng của hai người, rồi lặng lẽ tiến lại gần, mặt đỏ bừng, nói: “Ước nguyện của các ngươi đã thành. Các ngươi đã chiến thắng trái tim ta. Thành tín quả thật không hề là một ảo tưởng rỗng tuếch. Xin các ngươi… hãy cho ta được nhập bọn. Xin hãy nghe lời thỉnh cầu này của ta, cho ta làm một người trong nhóm bạn của các ngươi.” Đám đông ào lên tiếng hoan hô: “Vạn tuế! Đức vua vạn tuế!”

ひとりの少女しょうじょが、のマントをメロスにささげた。メロスは、まごついた。ともは、をきかせておしえてやった。「メロス、きみは、まっぱだかじゃないか。はやくそのマントをるがいい。この可愛かわいむすめさんは、メロスの裸体らたいを、みんなられるのが、たまらなく口惜くやしいのだ。」勇者ゆうしゃは、ひどく赤面せきめんした。

Một cô bé dâng lên Melos tấm áo choàng đỏ thắm. Melos lúng túng chẳng hiểu gì. Người bạn hiền tinh ý nhắc khéo: “Melos này, cậu đang trần như nhộng đấy. Mau khoác tấm áo choàng ấy vào. Cô bé đáng yêu này không chịu nổi khi thấy tấm thân trần của Melos bị mọi người nhìn thấy đâu.” Người dũng sĩ đỏ mặt tía tai.

古伝説こでんせつと、シルレルのから。)

(Phóng tác từ truyền thuyết cổ và thơ của Schiller.)

Từ vựng (phần sau)
Từ Cách đọc Nghĩa
身代わり みがわり người thế mạng
信実 しんじつ lòng thành tín
信頼 しんらい sự tin cậy
濁流 だくりゅう dòng nước lũ đục
山賊 さんぞく sơn tặc, cướp núi
正義 せいぎ chính nghĩa
裏切り者 うらぎりもの kẻ phản bội
刑場 けいじょう pháp trường
間に合う まにあう kịp giờ
抱擁 ほうよう cái ôm
Lưu ý bản song ngữ: Đoạn độc thoại tuyệt vọng dài của Melos giữa truyện được lược dịch cô đọng một phần cho dễ theo dõi; nguyên văn đầy đủ có trong file gốc books/03_hashire_merosu_走れメロス.html.
Nguồn văn bản gốc: 太宰治「走れメロス」(1940) — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「太宰治全集3」ちくま文庫、筑摩書房。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.

📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.

Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.

Gửi phản hồi

Trending

Khám phá thêm từ Học tập hiệu quả, thành công dễ dàng.

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc