Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.
宮沢賢治 (Miyazawa Kenji) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng
よだかは、実にみにくい鳥です。顔は、ところどころ、味噌をつけたようにまだらで、くちばしは、ひらたくて、耳までさけています。足は、まるでよぼよぼで、一間とも歩けません。
Yodaka — chim ưng đêm — quả là một con chim xấu xí. Mặt nó lốm đốm loang lổ như bị bôi tương miso, mỏ thì bẹt và rách toác đến tận mang tai. Đôi chân thì lẩy bẩy, đi chưa nổi một sải.
ほかの鳥は、もう、よだかの顔を見ただけでも、いやになってしまうという工合でした。
Những con chim khác chỉ mới nhìn thấy mặt yodaka thôi là đã phát chán.
たとえば、ひばりも、あまり美しい鳥ではありませんが、よだかよりは、ずっと上だと思っていましたので、夕方など、よだかにあうと、さもさもいやそうに、しんねりと目をつぶりながら、首をそっ方へ向けるのでした。もっとちいさなおしゃべりの鳥などは、いつでもよだかのまっこうから悪口をしました。
Chẳng hạn chim sơn ca, tuy cũng không đẹp đẽ gì, nhưng vẫn tự cho mình hơn hẳn yodaka; nên chiều chiều hễ chạm mặt yodaka là ra vẻ chán ghét lắm, lim dim nhắm mắt, ngoảnh cổ sang hướng khác. Còn mấy con chim nhỏ lắm mồm thì lúc nào cũng nói xấu thẳng vào mặt yodaka:
「ヘン。又出て来たね。まあ、あのざまをごらん。ほんとうに、鳥の仲間のつらよごしだよ。」「ね、まあ、あのくちのおおきいことさ。きっと、かえるの親類か何かなんだよ。」
“Hứ, nó lại ló mặt ra kìa. Nhìn cái bộ dạng ấy xem. Đúng là nỗi ô nhục của họ hàng nhà chim.” — “Này này, cái mồm nó to chưa kìa. Chắc chắn là họ hàng nhà ếch nhái gì đấy thôi.”
こんな調子です。おお、よだかでないただのたかならば、こんな生はんかのちいさい鳥は、もう名前を聞いただけでも、ぶるぶるふるえて、顔色を変えて、からだをちぢめて、木の葉のかげにでもかくれたでしょう。ところが夜だかは、ほんとうは鷹の兄弟でも親類でもありませんでした。かえって、よだかは、あの美しいかわせみや、鳥の中の宝石のような蜂すずめの兄さんでした。蜂すずめは花の蜜をたべ、かわせみはお魚を食べ、夜だかは羽虫をとってたべるのでした。それによだかには、するどい爪もするどいくちばしもありませんでしたから、どんなに弱い鳥でも、よだかをこわがる筈はなかったのです。
Cứ cái giọng như thế. Ôi, giá yodaka là một con diều hâu thực thụ, thì lũ chim nhỏ nửa mùa ấy chỉ mới nghe tên thôi đã run cầm cập, tái mặt, co rúm người trốn sau tán lá rồi. Nhưng thực ra chim ưng đêm chẳng phải anh em họ hàng gì với diều hâu cả. Ngược lại, yodaka lại là anh trai của chim bói cá xinh đẹp và của chim ruồi — viên ngọc quý của loài chim. Chim ruồi hút mật hoa, bói cá ăn cá, còn chim ưng đêm thì bắt côn trùng có cánh mà ăn. Vả lại yodaka chẳng có vuốt sắc cũng chẳng có mỏ nhọn, nên con chim yếu ớt đến đâu cũng chẳng việc gì phải sợ nó.
それなら、たかという名のついたことは不思議なようですが、これは、一つはよだかのはねが無暗に強くて、風を切って翔けるときなどは、まるで鷹のように見えたことと、も一つはなきごえがするどくて、やはりどこか鷹に似ていた為です。もちろん、鷹は、これをひじょうに気にかけて、いやがっていました。それですから、よだかの顔さえ見ると、肩をいからせて、早く名前をあらためろ、名前をあらためろと、いうのでした。
Vậy thì việc mang cái tên “ưng” kể cũng lạ; nhưng đó là vì, một là đôi cánh yodaka khỏe lạ thường, những lúc xé gió lao vun vút trông chẳng khác gì diều hâu; hai là tiếng kêu của nó the thé, cũng có phần giống diều hâu. Dĩ nhiên diều hâu rất khó chịu vì chuyện này. Vậy nên cứ trông thấy mặt yodaka là hắn gồng vai lên: đổi tên mau, đổi tên ngay đi.
ある夕方、とうとう、鷹がよだかのうちへやって参りました。「おい。居るかい。まだお前は名前をかえないのか。ずいぶんお前も恥知らずだな。お前とおれでは、よっぽど人格がちがうんだよ。たとえばおれは、青いそらをどこまででも飛んで行く。おまえは、曇ってうすぐらい日か、夜でなくちゃ、出て来ない。それから、おれのくちばしやつめを見ろ。そして、よくお前のとくらべて見るがいい。」
Một buổi chiều nọ, rốt cuộc diều hâu mò đến tận nhà yodaka. “Ê, có nhà không? Mày vẫn chưa chịu đổi tên à? Mày cũng mặt dày thật đấy. Tao với mày nhân cách khác nhau một trời một vực. Chẳng hạn như tao, tao bay khắp trời xanh muốn đâu thì đến. Còn mày, không phải ngày âm u thì phải đợi đêm xuống mới dám ló mặt ra. Rồi nhìn cái mỏ với bộ vuốt của tao đây này. Đem mà so kỹ với của mày xem.”
「鷹さん。それはあんまり無理です。私の名前は私が勝手につけたのではありません。神さまから下さったのです。」「いいや。おれの名なら、神さまから貰ったのだと云ってもよかろうが、お前のは、云わば、おれと夜と、両方から借りてあるんだ。さあ返せ。」「鷹さん。それは無理です。」
“Anh diều hâu, thế thì quá đáng lắm. Tên tôi có phải tôi tự tiện đặt ra đâu. Là trời ban cho đấy chứ.” — “Không. Tên của tao thì mới đáng gọi là trời ban, chứ tên mày, nói trắng ra, là đi mượn cả của tao lẫn của màn đêm đấy. Trả đây.” — “Anh diều hâu, thế thì vô lý quá.”
「無理じゃない。おれがいい名を教えてやろう。市蔵というんだ。市蔵とな。いい名だろう。そこで、名前を変えるには、改名の披露というものをしないといけない。いいか。それはな、首へ市蔵と書いたふだをぶらさげて、私は以来市蔵と申しますと、口上を云って、みんなの所をおじぎしてまわるのだ。」「そんなことはとても出来ません。」
“Vô lý gì mà vô lý. Để tao cho mày một cái tên hay: Ichizō. Ichizō nhé. Tên đẹp đấy chứ? Mà đã đổi tên thì phải làm lễ ra mắt tên mới. Nghe đây: mày đeo lên cổ tấm biển đề chữ ‘Ichizō’, rồi đi vòng khắp nhà từng người, cúi đầu thưa: ‘Từ nay tôi xin được gọi là Ichizō.’” — “Chuyện như thế tôi không tài nào làm nổi.”
「いいや。出来る。そうしろ。もしあさっての朝までに、お前がそうしなかったら、もうすぐ、つかみ殺すぞ。つかみ殺してしまうから、そう思え。おれはあさっての朝早く、鳥のうちを一軒ずつまわって、お前が来たかどうかを聞いてあるく。一軒でも来なかったという家があったら、もう貴様もその時がおしまいだぞ。」「だってそれはあんまり無理じゃありませんか。そんなことをする位なら、私はもう死んだ方がましです。今すぐ殺して下さい。」「まあ、よく、あとで考えてごらん。市蔵なんてそんなにわるい名じゃないよ。」鷹は大きなはねを一杯にひろげて、自分の巣の方へ飛んで帰って行きました。
“Không, làm được. Cứ thế mà làm. Nếu đến sáng ngày kia mà mày chưa làm, tao sẽ bóp chết mày ngay. Nhớ lấy, tao sẽ bóp chết đấy. Sáng sớm ngày kia tao sẽ đi từng nhà chim một, hỏi xem mày đã đến chưa. Chỉ cần một nhà bảo mày chưa đến, là đời mày chấm hết.” — “Nhưng thế thì quá đáng quá còn gì. Phải làm chuyện như thế thì thà tôi chết còn hơn. Anh giết tôi ngay bây giờ đi.” — “Thôi, cứ về nghĩ kỹ lại đi. Ichizō đâu phải cái tên tệ đến thế.” Diều hâu dang rộng hết cỡ đôi cánh lớn, bay về tổ của mình.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| みにくい | 醜い | xấu xí |
| 悪口 | わるくち | lời nói xấu |
| 親類 | しんるい | họ hàng |
| 鷹 | たか | diều hâu, chim ưng |
| 恥知らず | はじしらず | kẻ vô liêm sỉ, mặt dày |
| 人格 | じんかく | nhân cách |
| 改名 | かいめい | việc đổi tên |
| 〜た方がましだ | ほうがましだ | thà ~ còn hơn |
よだかは、じっと目をつぶって考えました。(一たい僕は、なぜこうみんなにいやがられるのだろう。僕の顔は、味噌をつけたようで、口は裂けてるからなあ。それだって、僕は今まで、なんにも悪いことをしたことがない。赤ん坊のめじろが巣から落ちていたときは、助けて巣へ連れて行ってやった。そしたらめじろは、赤ん坊をまるでぬす人からでもとりかえすように僕からひきはなしたんだなあ。それからひどく僕を笑ったっけ。それにああ、今度は市蔵だなんて、首へふだをかけるなんて、つらいはなしだなあ。)
Yodaka nhắm nghiền mắt, suy nghĩ. (Rốt cuộc sao ai cũng ghét mình thế nhỉ? Vì mặt mình như bị bôi tương, mồm thì rách toác chăng. Nhưng mà, từ trước tới giờ mình có làm điều gì xấu đâu. Hồi con chim sâu non rơi khỏi tổ, mình còn cứu nó, đưa nó về tổ. Vậy mà mẹ chim sâu giật phắt đứa con khỏi mình, cứ như giằng lại từ tay quân ăn trộm. Rồi còn cười nhạo mình thậm tệ nữa chứ. Mà giờ thì, trời ơi, lại còn Ichizō, còn đeo biển lên cổ… cay đắng thật.)
あたりは、もううすくらくなっていました。夜だかは巣から飛び出しました。雲が意地悪く光って、低くたれています。夜だかはまるで雲とすれすれになって、音なく空を飛びまわりました。
Trời đã nhá nhem tối. Chim ưng đêm bay vụt khỏi tổ. Mây sáng lên một cách ác nghiệt, sà xuống thấp. Yodaka bay lượn không một tiếng động, sát rạt những đám mây.
それからにわかによだかは口を大きくひらいて、はねをまっすぐに張って、まるで矢のようにそらをよこぎりました。小さな羽虫が幾匹も幾匹もその咽喉にはいりました。からだがつちにつくかつかないうちに、よだかはひらりとまたそらへはねあがりました。もう雲は鼠色になり、向うの山には山焼けの火がまっ赤です。
Rồi đột nhiên yodaka há to mồm, căng thẳng đôi cánh, xẹt ngang bầu trời như một mũi tên. Bao nhiêu là côn trùng nhỏ chui tọt vào cổ họng nó. Thân mình vừa chạm đất hay chưa, yodaka đã thoắt cái vút lên trời trở lại. Mây đã ngả màu xám chuột, và trên ngọn núi phía xa, lửa đốt nương cháy đỏ rực.
夜だかが思い切って飛ぶときは、そらがまるで二つに切れたように思われます。一疋の甲虫が、夜だかの咽喉にはいって、ひどくもがきました。よだかはすぐそれを呑みこみましたが、その時何だかせなかがぞっとしたように思いました。
Những lúc yodaka dốc hết sức mà bay, tưởng như cả bầu trời bị xẻ làm đôi. Một con bọ cánh cứng lọt vào cổ họng nó, giãy giụa dữ dội. Yodaka nuốt chửng ngay, nhưng đúng khoảnh khắc ấy, nó bỗng thấy sống lưng ớn lạnh.
雲はもうまっくろく、東の方だけ山やけの火が赤くうつって、恐ろしいようです。よだかはむねがつかえたように思いながら、又そらへのぼりました。また一疋の甲虫が、夜だかののどに、はいりました。そしてまるでよだかの咽喉をひっかいてばたばたしました。よだかはそれを無理にのみこんでしまいましたが、その時、急に胸がどきっとして、夜だかは大声をあげて泣き出しました。泣きながらぐるぐるぐるぐる空をめぐったのです。
Mây giờ đã đen kịt, chỉ phía đông ánh lửa đốt nương hắt đỏ, trông dễ sợ. Yodaka thấy ngực mình như nghẹn lại, nhưng vẫn bay vọt lên trời. Lại một con bọ cánh cứng nữa lọt vào cổ họng nó, cào cấu cổ họng nó mà vùng vẫy. Yodaka gắng gượng nuốt xuống, nhưng ngay lúc đó, tim nó bỗng nhói thắt, và chim ưng đêm òa khóc thật to. Nó vừa khóc vừa lượn vòng, lượn vòng mãi trên bầu trời.
(ああ、かぶとむしや、たくさんの羽虫が、毎晩僕に殺される。そしてそのただ一つの僕がこんどは鷹に殺される。それがこんなにつらいのだ。ああ、つらい、つらい。僕はもう虫をたべないで餓えて死のう。いやその前にもう鷹が僕を殺すだろう。いや、その前に、僕は遠くの遠くの空の向うに行ってしまおう。)
(Ôi, bọ cánh cứng, bao nhiêu côn trùng, đêm nào cũng bị ta giết. Và giờ đây cái thân duy nhất này của ta lại sắp bị diều hâu giết. Thì ra nó đau đớn đến nhường này. Ôi, đau quá, đau quá. Thôi, ta sẽ không ăn côn trùng nữa, ta sẽ nhịn đói mà chết. Không, trước đó diều hâu đã giết ta rồi. Không, trước khi hắn kịp làm thế, ta sẽ bay đi — đến tận nơi xa thẳm bên kia bầu trời.)
山焼けの火は、だんだん水のように流れてひろがり、雲も赤く燃えているようです。よだかはまっすぐに、弟の川せみの所へ飛んで行きました。きれいな川せみも、丁度起きて遠くの山火事を見ていた所でした。そしてよだかの降りて来たのを見て云いました。「兄さん。今晩は。何か急のご用ですか。」「いいや、僕は今度遠い所へ行くからね、その前一寸お前に遭いに来たよ。」
Lửa đốt nương dần loang rộng như nước chảy, mây cũng như đang rực cháy đỏ. Yodaka bay thẳng đến chỗ em trai nó — chim bói cá. Chú bói cá xinh đẹp cũng vừa thức dậy, đang ngắm đám cháy núi đằng xa. Thấy anh mình đáp xuống, nó hỏi: “Anh ơi, chào anh. Có việc gì gấp thế ạ?” — “Không, anh sắp đi đến một nơi rất xa, nên trước khi đi ghé thăm em một chút thôi.”
「兄さん。行っちゃいけませんよ。蜂雀もあんな遠くにいるんですし、僕ひとりぼっちになってしまうじゃありませんか。」「それはね。どうも仕方ないのだ。もう今日は何も云わないで呉れ。そしてお前もね、どうしてもとらなければならない時のほかはいたずらにお魚を取ったりしないようにして呉れ。ね、さよなら。」「兄さん。どうしたんです。まあもう一寸お待ちなさい。」「いや、いつまで居てもおんなじだ。はちすずめへ、あとでよろしく云ってやって呉れ。さよなら。もうあわないよ。さよなら。」
“Anh ơi, anh đừng đi. Anh chim ruồi thì đã ở tận đâu đâu, anh mà đi nữa thì em thành côi cút một mình còn gì.” — “Chuyện đó… đành chịu thôi em ạ. Hôm nay đừng nói gì thêm nữa. Còn em nữa, trừ những lúc thật sự cần thiết, đừng bắt cá một cách vô cớ nhé. Nhé, tạm biệt em.” — “Anh ơi, anh làm sao thế? Khoan đã, anh đợi chút đã nào.” — “Không, ở thêm bao lâu cũng vậy thôi. Sau này nhắn lời hỏi thăm anh chim ruồi hộ anh nhé. Tạm biệt. Chúng ta không gặp lại nữa đâu. Tạm biệt.”
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 巣 | す | tổ (chim) |
| 咽喉/のど | のど | cổ họng |
| 甲虫 | かぶとむし | bọ cánh cứng |
| 呑みこむ | のみこむ | nuốt chửng |
| ぞっとする | — | ớn lạnh, rùng mình |
| 餓えて死ぬ | うえてしぬ | chết đói |
| 山火事 | やまかじ | cháy rừng, cháy núi |
| 仕方ない | しかたない | đành chịu, hết cách |
よだかは泣きながら自分のお家へ帰って参りました。みじかい夏の夜はもうあけかかっていました。羊歯の葉は、よあけの霧を吸って、青くつめたくゆれました。よだかは高くきしきしきしと鳴きました。そして巣の中をきちんとかたづけ、きれいにからだ中のはねや毛をそろえて、また巣から飛び出しました。
Yodaka vừa khóc vừa trở về nhà mình. Đêm hè ngắn ngủi đã sắp rạng. Những tán dương xỉ hút sương sớm, xanh biếc và lạnh lẽo đung đưa. Yodaka cất tiếng kêu cao vút “ki-si-si-si”. Rồi nó dọn dẹp tổ ngăn nắp, rỉa gọn gàng từng chiếc lông trên khắp thân mình, đoạn lại bay vụt khỏi tổ.
霧がはれて、お日さまが丁度東からのぼりました。夜だかはぐらぐらするほどまぶしいのをこらえて、矢のように、そっちへ飛んで行きました。「お日さん、お日さん。どうぞ私をあなたの所へ連れてって下さい。灼けて死んでもかまいません。私のようなみにくいからだでも灼けるときには小さなひかりを出すでしょう。どうか私を連れてって下さい。」
Sương tan, mặt trời vừa mọc lên từ phía đông. Yodaka nén cơn chói lóa đến choáng váng, lao vút về phía ấy như một mũi tên. “Ông Mặt Trời ơi, ông Mặt Trời. Xin hãy đưa cháu về chỗ ông. Dù có cháy thành tro cháu cũng cam lòng. Cái thân xấu xí như cháu, khi bốc cháy hẳn cũng lóe lên được một tia sáng nhỏ chứ. Xin ông hãy mang cháu đi.”
行っても行っても、お日さまは近くなりませんでした。かえってだんだん小さく遠くなりながらお日さまが云いました。「お前はよだかだな。なるほど、ずいぶんつらかろう。今夜そらを飛んで、星にそうたのんでごらん。お前はひるの鳥ではないのだからな。」
Bay mãi, bay mãi, mặt trời vẫn chẳng gần thêm chút nào. Ngược lại, mặt trời cứ nhỏ dần, xa dần, rồi cất tiếng: “Ngươi là chim ưng đêm phải không. Ừ, hẳn là ngươi khổ tâm lắm. Đêm nay hãy bay lên trời mà cầu xin các vì sao thử xem. Bởi ngươi đâu phải là loài chim của ban ngày.”
夜だかはおじぎを一つしたと思いましたが、急にぐらぐらしてとうとう野原の草の上に落ちてしまいました。そしてまるで夢を見ているようでした。からだがずうっと赤や黄の星のあいだをのぼって行ったり、どこまでも風に飛ばされたり、又鷹が来てからだをつかんだりしたようでした。
Yodaka vừa định cúi chào một cái thì bỗng choáng váng, và cuối cùng rơi xuống bãi cỏ trên cánh đồng. Nó mê man như trong giấc mộng: thấy thân mình bay lên mãi giữa những vì sao đỏ sao vàng, thấy bị gió cuốn đi vô tận, rồi lại thấy diều hâu ập đến quắp lấy thân mình.
つめたいものがにわかに顔に落ちました。よだかは眼をひらきました。一本の若いすすきの葉から露がしたたったのでした。もうすっかり夜になって、空は青ぐろく、一面の星がまたたいていました。よだかはそらへ飛びあがりました。今夜も山やけの火はまっかです。よだかはその火のかすかな照りと、つめたいほしあかりの中をとびめぐりました。それからもう一ぺん飛びめぐりました。そして思い切って西のそらのあの美しいオリオンの星の方に、まっすぐに飛びながら叫びました。「お星さん。西の青じろいお星さん。どうか私をあなたのところへ連れてって下さい。灼けて死んでもかまいません。」
Một giọt gì lạnh buốt bỗng rơi xuống mặt. Yodaka mở mắt. Là giọt sương nhỏ xuống từ một nhành cỏ lau non. Đêm đã xuống hẳn, bầu trời xanh thẫm, muôn vì sao lấp lánh khắp một dải. Yodaka bay vút lên trời. Đêm nay lửa đốt nương vẫn đỏ rực. Nó bay lượn giữa ánh lửa mờ nhạt ấy và ánh sao lạnh lẽo. Rồi nó lượn thêm một vòng nữa. Đoạn nó lấy hết can đảm, nhắm thẳng chòm sao Orion tuyệt đẹp ở trời tây mà bay, vừa bay vừa gào: “Ngài Sao ơi! Ngài Sao xanh nhạt phương tây! Xin hãy đưa tôi về chỗ ngài. Dù cháy thành tro tôi cũng cam lòng.”
オリオンは勇ましい歌をつづけながらよだかなどはてんで相手にしませんでした。よだかは泣きそうになって、よろよろと落ちて、それからやっとふみとまって、もう一ぺんとびめぐりました。それから、南の大犬座の方へまっすぐに飛びながら叫びました。「お星さん。南の青いお星さん。どうか私をあなたの所へつれてって下さい。やけて死んでもかまいません。」
Orion vẫn hát vang khúc ca hùng tráng, chẳng buồn để ý gì đến yodaka. Yodaka tủi thân muốn khóc, loạng choạng rơi xuống, rồi mãi mới gượng lại được, lượn thêm một vòng nữa. Lần này nó nhắm thẳng chòm Đại Khuyển phương nam mà bay, vừa bay vừa gào: “Ngài Sao ơi! Ngài Sao xanh phương nam! Xin hãy đưa tôi về chỗ ngài. Dù cháy thành tro tôi cũng cam lòng.”
大犬は青や紫や黄やうつくしくせわしくまたたきながら云いました。「馬鹿を云うな。おまえなんか一体どんなものだい。たかが鳥じゃないか。おまえのはねでここまで来るには、億年兆年億兆年だ。」そしてまた別の方を向きました。
Đại Khuyển nhấp nháy xanh, tím, vàng, đẹp đẽ và bận rộn, đáp: “Đừng nói chuyện ngu ngốc. Ngươi là cái thá gì chứ? Chẳng qua chỉ là một con chim. Với đôi cánh của ngươi mà bay được đến đây thì phải mất trăm triệu năm, nghìn tỷ năm, trăm triệu nghìn tỷ năm.” Rồi ngoảnh sang hướng khác.
よだかはがっかりして、よろよろ落ちて、それから又二へん飛びめぐりました。それから又思い切って北の大熊星の方へまっすぐに飛びながら叫びました。「北の青いお星さま、あなたの所へどうか私を連れてって下さい。」大熊星はしずかに云いました。「余計なことを考えるものではない。少し頭をひやして来なさい。そう云うときは、氷山の浮いている海の中へ飛び込むか、近くに海がなかったら、氷をうかべたコップの水の中へ飛び込むのが一等だ。」
Yodaka thất vọng, loạng choạng rơi xuống, rồi lại lượn thêm hai vòng nữa. Đoạn nó lại lấy hết can đảm nhắm thẳng sao Đại Hùng phương bắc mà bay, vừa bay vừa gào: “Ngài Sao xanh phương bắc, xin hãy đưa tôi về chỗ ngài.” Đại Hùng tinh điềm nhiên đáp: “Đừng có nghĩ vớ vẩn. Về làm nguội cái đầu đi đã. Những lúc như thế, tốt nhất là nhảy xuống vùng biển có băng sơn trôi; không có biển gần đấy thì nhảy vào cốc nước thả đá là nhất.”
よだかはがっかりして、よろよろ落ちて、それから又、四へんそらをめぐりました。そしてもう一度、東から今のぼった天の川の向う岸の鷲の星に叫びました。「東の白いお星さま、どうか私をあなたの所へ連れてって下さい。やけて死んでもかまいません。」鷲は大風に云いました。「いいや、とてもとても、話にも何にもならん。星になるには、それ相応の身分でなくちゃいかん。又よほど金もいるのだ。」
Yodaka thất vọng, loạng choạng rơi xuống, rồi lại bay bốn vòng trời. Và một lần nữa, nó gào lên với sao Đại Bàng bên kia bờ dải Ngân Hà vừa mọc ở phía đông: “Ngài Sao trắng phương đông, xin hãy đưa tôi về chỗ ngài. Dù cháy thành tro tôi cũng cam lòng.” Đại Bàng kênh kiệu đáp: “Không không, còn lâu, chuyện không đáng bàn. Muốn thành sao thì phải có thân phận tương xứng. Lại còn phải lắm tiền nữa kia.”
よだかはもうすっかり力を落してしまって、はねを閉じて、地に落ちて行きました。そしてもう一尺で地面にその弱い足がつくというとき、よだかは俄かにのろしのようにそらへとびあがりました。そらのなかほどへ来て、よだかはまるで鷲が熊を襲うときするように、ぶるっとからだをゆすって毛をさかだてました。
Yodaka hoàn toàn kiệt sức, xếp cánh, buông mình rơi xuống đất. Nhưng đúng lúc đôi chân yếu ớt chỉ còn một gang nữa là chạm đất, yodaka bỗng vụt lên trời như một cột lửa hiệu. Lên tới lưng chừng trời, nó rùng mình lắc toàn thân, xù dựng cả lông lên, hệt như đại bàng khi sắp vồ gấu.
それからキシキシキシキシキシッと高く高く叫びました。その声はまるで鷹でした。野原や林にねむっていたほかのとりは、みんな目をさまして、ぶるぶるふるえながら、いぶかしそうにほしぞらを見あげました。
Rồi nó thét lên cao vút, cao vút: “Ki-si-ki-si-ki-si-ki-sít!” Tiếng thét ấy hệt như tiếng diều hâu. Những con chim đang ngủ ngoài đồng, trong rừng đều choàng tỉnh, run lẩy bẩy, ngơ ngác ngước nhìn bầu trời sao.
夜だかは、どこまでも、どこまでも、まっすぐに空へのぼって行きました。もう山焼けの火はたばこの吸殻のくらいにしか見えません。よだかはのぼってのぼって行きました。寒さにいきはむねに白く凍りました。空気がうすくなった為に、はねをそれはそれはせわしくうごかさなければなりませんでした。
Chim ưng đêm cứ bay thẳng lên trời, lên mãi, lên mãi. Lửa đốt nương giờ chỉ còn bé như đốm tàn thuốc lá. Yodaka lên nữa, lên nữa. Vì rét, hơi thở đóng băng trắng xóa trước ngực. Không khí loãng dần, nó phải đập cánh dồn dập, dồn dập biết chừng nào.
それだのに、ほしの大きさは、さっきと少しも変りません。つくいきはふいごのようです。寒さや霜がまるで剣のようによだかを刺しました。よだかははねがすっかりしびれてしまいました。そしてなみだぐんだ目をあげてもう一ぺんそらを見ました。そうです。これがよだかの最後でした。もうよだかは落ちているのか、のぼっているのか、さかさになっているのか、上を向いているのかも、わかりませんでした。ただこころもちはやすらかに、その血のついた大きなくちばしは、横にまがっては居ましたが、たしかに少しわらって居りました。
Vậy mà những vì sao vẫn chẳng to hơn lúc nãy lấy một chút. Hơi thở nó phì phò như bễ lò rèn. Cái rét và sương giá đâm vào yodaka như những lưỡi gươm. Đôi cánh nó tê dại hoàn toàn. Nó ngước đôi mắt rưng rưng nhìn trời thêm một lần nữa. Phải, đó là giây phút cuối cùng của chim ưng đêm. Nó không còn biết mình đang rơi hay đang bay lên, đang lộn ngược hay đang ngửa mặt lên trời nữa. Chỉ có cõi lòng là thanh thản; chiếc mỏ lớn dính máu kia tuy đã vẹo sang một bên, nhưng quả thật đang thoáng một nụ cười.
それからしばらくたってよだかははっきりまなこをひらきました。そして自分のからだがいま燐の火のような青い美しい光になって、しずかに燃えているのを見ました。すぐとなりは、カシオピア座でした。天の川の青じろいひかりが、すぐうしろになっていました。
Một lúc sau, yodaka mở bừng mắt. Và nó thấy thân mình giờ đây đã hóa thành một vầng sáng xanh tuyệt đẹp như ngọn lửa lân tinh, đang lặng lẽ cháy. Ngay bên cạnh là chòm sao Cassiopeia. Ánh sáng xanh nhạt của dải Ngân Hà ở ngay sau lưng.
そしてよだかの星は燃えつづけました。いつまでもいつまでも燃えつづけました。今でもまだ燃えています。
Và ngôi sao chim ưng đêm cứ cháy mãi. Cháy mãi, cháy mãi không thôi. Đến tận bây giờ vẫn còn đang cháy.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 灼ける | やける | bị thiêu cháy |
| 露 | つゆ | giọt sương |
| 天の川 | あまのがわ | dải Ngân Hà |
| 身分 | みぶん | thân phận, địa vị |
| 凍る | こおる | đóng băng |
| 剣 | つるぎ | thanh gươm |
| しびれる | — | tê dại |
| 安らか | やすらか | thanh thản, bình yên |
| 燃え続ける | もえつづける | cháy mãi không thôi |
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「新編 銀河鉄道の夜」新潮文庫、新潮社。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.
📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.
Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.





Gửi phản hồi