どんぐりと山猫 — Hạt dẻ và mèo rừng

Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.


宮沢賢治 (Miyazawa Kenji) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng

おかしなはがきが、ある土曜日どようびの夕ゆうがた、一郎いちろうのうちにきました。

Một tấm bưu thiếp kỳ cục được gửi đến nhà Ichirō vào một chiều thứ Bảy nọ.

かねた一郎いちろうさま 九月十九日くがつじゅうくにち
あなたは、ごきげんよろしいほで、けっこです。
あした、めんどなさいばんしますから、おいで
んなさい。とびどぐもたないでくなさい。
山やまねこ 拝はい

Kính gửi cậu Kaneta Ichirō — ngày 19 tháng 9
Cậu vẫn mạnh khoẻe là tôt rồi.
Mai có phiên toà rắc rồi lắm, mời cậu đến dự.
Xin đừng mang theo súng ống.
Mèo rừng — kính thư
(Bưu thiếp cố tình viết sai chính tả lung tung — vì là mèo rừng viết mà.)

こんなのです。字じはまるでへたで、墨すみもがさがさして指ゆびにつくくらいでした。けれども一郎いちろうはうれしくてうれしくてたまりませんでした。はがきをそっと学校がっこうのかばんにしまって、うちじゅうとんだりはねたりしました。

Nội dung là như thế. Chữ thì xấu tệ, mực lại lem nhem đến mức dính cả vào tay. Vậy mà Ichirō mừng ơi là mừng, không chịu nổi. Cậu nhẹ nhàng cất tấm bưu thiếp vào cặp sách, rồi nhảy cẫng tưng tưng khắp nhà.

ね床どこにもぐってからも、山猫やまねこのにゃあとした顔かおや、そのめんどうだという裁判さいばんのけしきなどを考かんがえて、おそくまでねむりませんでした。

Chui vào chăn rồi, cậu vẫn nằm tưởng tượng khuôn mặt “meo meo” của mèo rừng, quang cảnh phiên tòa rắc rối kia, mãi khuya mới ngủ được.

けれども、一郎いちろうが眼めをさましたときは、もうすっかり明あかるくなっていました。おもてにでてみると、まわりの山やまは、みんなたったいまできたばかりのようにうるうるもりあがって、まっ青さおなそらのしたにならんでいました。一郎いちろうはいそいでごはんをたべて、ひとり谷川たにがわに沿そったこみちを、かみの方ほうへのぼって行いきました。

Nhưng khi Ichirō tỉnh giấc thì trời đã sáng bạch. Ra ngoài nhìn, những ngọn núi xung quanh mơn mởn vun cao như thể vừa mới mọc xong, xếp hàng dưới bầu trời xanh ngắt. Ichirō vội vàng ăn cơm, rồi một mình men theo con đường nhỏ dọc suối, ngược lên phía thượng nguồn.

すきとおった風かぜがざあっと吹ふくと、栗くりの木きはばらばらと実みをおとしました。一郎いちろうは栗くりの木きをみあげて、「栗くりの木き、栗くりの木き、やまねこがここを通とおらなかったかい。」とききました。栗くりの木きはちょっとしずかになって、「やまねこなら、けさはやく、馬車ばしゃでひがしの方ほうへ飛とんで行いきましたよ。」と答こたえました。「東ひがしならぼくのいく方ほうだねえ、おかしいな、とにかくもっといってみよう。栗くりの木きありがとう。」栗くりの木きはだまってまた実みをばらばらとおとしました。

Làn gió trong veo ào tới, cây dẻ lộp độp trút quả xuống. Ichirō ngẩng nhìn cây dẻ, hỏi: “Cây dẻ ơi, cây dẻ, mèo rừng có đi qua đây không?” Cây dẻ lặng đi một thoáng rồi đáp: “Mèo rừng hả? Sáng sớm nay đi xe ngựa vút về phía đông rồi đấy.” — “Phía đông là hướng mình đang đi mà. Lạ nhỉ. Thôi cứ đi tiếp xem sao. Cảm ơn cây dẻ nhé.” Cây dẻ im lặng, lại lộp độp trút quả.

一郎いちろうがすこし行いきますと、そこはもう笛ふえふきの滝たきでした。笛ふえふきの滝たきというのは、まっ白しろな岩いわの崖がけのなかほどに、小ちいさな穴あながあいていて、そこから水みずが笛ふえのように鳴なって飛とび出だし、すぐ滝たきになって、ごうごう谷たににおちているのをいうのでした。一郎いちろうは滝たきに向むいて叫さけびました。「おいおい、笛ふえふき、やまねこがここを通とおらなかったかい。」滝たきがぴーぴー答こたえました。「やまねこは、さっき、馬車ばしゃで西にしの方ほうへ飛とんで行いきましたよ。」「おかしいな、西にしならぼくのうちの方ほうだ。けれども、まあも少すこし行いってみよう。ふえふき、ありがとう。」滝たきはまたもとのように笛ふえを吹ふきつづけました。

Ichirō đi thêm một quãng thì tới thác Thổi Sáo. Gọi là thác Thổi Sáo vì lưng chừng vách đá trắng toát có một cái lỗ nhỏ, nước từ đó phun ra kêu vi vu như tiếng sáo, rồi lập tức thành dòng thác đổ ầm ầm xuống thung lũng. Ichirō hướng về phía thác gọi to: “Này này, Thổi Sáo ơi, mèo rừng có qua đây không?” Thác “pi pi” đáp: “Mèo rừng vừa đi xe ngựa vút về phía tây lúc nãy rồi.” — “Lạ thật, phía tây là hướng nhà mình cơ mà. Thôi, cứ đi thêm chút nữa xem. Cảm ơn Thổi Sáo nhé.” Thác lại tiếp tục thổi sáo như cũ.

一郎いちろうがまたすこし行いきますと、一本いっぽんのぶなの木きのしたに、たくさんの白しろいきのこが、どってこどってこどってこと、変へんな楽隊がくたいをやっていました。一郎いちろうはからだをかがめて、「おい、きのこ、やまねこが、ここを通とおらなかったかい。」とききました。するときのこは「やまねこなら、けさはやく、馬車ばしゃで南みなみの方ほうへ飛とんで行いきましたよ。」とこたえました。一郎いちろうは首くびをひねりました。「みなみならあっちの山やまのなかだ。おかしいな。まあもすこし行いってみよう。きのこ、ありがとう。」きのこはみんないそがしそうに、どってこどってこと、あのへんな楽隊がくたいをつづけました。

Ichirō đi thêm chút nữa, thấy dưới gốc một cây sồi, cả đám nấm trắng đang chơi một dàn nhạc kỳ quặc, “tùng tục tùng tục tùng tục”. Ichirō khom người xuống hỏi: “Này, nấm ơi, mèo rừng có qua đây không?” Đám nấm đáp: “Mèo rừng hả, sáng sớm nay đi xe ngựa vút về phía nam rồi.” Ichirō nghiêng đầu ngẫm nghĩ: “Phía nam thì lại là trong dãy núi đằng kia. Lạ thật. Thôi, đi thêm chút nữa vậy. Cảm ơn nấm nhé.” Đám nấm lại tất bật tiếp tục dàn nhạc kỳ quặc “tùng tục tùng tục” của mình.

一郎いちろうはまたすこし行いきました。すると一本いっぽんのくるみの木きの梢こずえを、栗鼠りすがぴょんととんでいました。一郎いちろうはすぐ手てまねぎしてそれをとめて、「おい、りす、やまねこがここを通とおらなかったかい。」とたずねました。するとりすは、木きの上うえから、額ひたいに手てをかざして、一郎いちろうを見みながらこたえました。「やまねこなら、けさまだくらいうちに馬車ばしゃでみなみの方ほうへ飛とんで行いきましたよ。」「みなみへ行いったなんて、二ふたとこでそんなことを言いうのはおかしいなあ。けれどもまあもすこし行いってみよう。りす、ありがとう。」りすはもう居いませんでした。ただくるみのいちばん上うえの枝えだがゆれ、となりのぶなの葉はがちらっとひかっただけでした。

Ichirō lại đi thêm quãng nữa. Trên ngọn một cây óc chó, một chú sóc đang nhảy thoăn thoắt. Ichirō lập tức vẫy tay gọi lại, hỏi: “Này sóc, mèo rừng có qua đây không?” Sóc từ trên cây khum tay che trán, nhìn Ichirō đáp: “Mèo rừng hả, sáng nay trời còn tối mịt đã đi xe ngựa vút về phía nam rồi.” — “Đến hai chỗ cùng bảo là đi về phía nam, lạ ghê. Nhưng thôi, cứ đi thêm chút nữa. Cảm ơn sóc nhé.” Sóc đã biến mất tự lúc nào. Chỉ còn cành cao nhất của cây óc chó rung rinh, và tán lá sồi bên cạnh lóe sáng một thoáng.

Từ vựng (đoạn đầu)
Từ Cách đọc Nghĩa
はがき 葉書 bưu thiếp
裁判 さいばん phiên tòa, xét xử
谷川 たにがわ suối trong khe núi
滝 たき thác nước
崖 がけ vách đá
楽隊 がくたい dàn nhạc, ban nhạc
栗鼠 りす con sóc
梢 こずえ ngọn cây
首をひねる くびをひねる nghiêng đầu thắc mắc

一郎いちろうがすこし行いきましたら、谷川たにがわにそったみちは、もう細ほそくなって消きえてしまいました。そして谷川たにがわの南みなみの、まっ黒くろな榧かやの木きの森もりの方ほうへ、あたらしいちいさなみちがついていました。一郎いちろうはそのみちをのぼって行いきました。榧かやの枝えだはまっくろに重かさなりあって、青あおぞらは一ひときれも見みえず、みちは大たいへん急きゅうな坂さかになりました。一郎いちろうが顔かおをまっかにして、汗あせをぽとぽとおとしながら、その坂さかをのぼりますと、にわかにぱっと明あかるくなって、眼めがちくっとしました。そこはうつくしい黄金きんいろの草地くさちで、草くさは風かぜにざわざわ鳴なり、まわりは立派りっぱなオリーブいろのかやの木きのもりでかこまれてありました。

Ichirō đi thêm một quãng thì con đường men suối nhỏ dần rồi biến mất. Và về phía nam con suối, hướng khu rừng cây phỉ đen thẫm, có một lối mòn nhỏ mới mở. Ichirō leo theo lối ấy. Cành phỉ đan nhau đen kịt, không hé lấy một mảnh trời xanh, con đường thành một con dốc dựng đứng. Ichirō mặt đỏ gay, mồ hôi nhỏ tong tong, leo hết con dốc thì đột nhiên trời bừng sáng, mắt cậu nhói lên. Trước mặt là một bãi cỏ màu vàng kim tuyệt đẹp, cỏ reo xào xạc trong gió, bốn bề là rừng phỉ màu ô liu lộng lẫy bao quanh.

その草地くさちのまん中なかに、せいの低ひくいおかしな形かたちの男おとこが、膝ひざを曲まげて手てに革鞭かわむちをもって、だまってこっちをみていたのです。一郎いちろうはだんだんそばへ行いって、びっくりして立たちどまってしまいました。その男おとこは、片眼かためで、見みえない方ほうの眼めは、白しろくびくびくうごき、上着うわぎのような半纒はんてんのようなへんなものを着きて、だいいち足あしが、ひどくまがって山羊やぎのよう、ことにそのあしさきときたら、ごはんをもるへらのかたちだったのです。一郎いちろうは気味きみが悪わるかったのですが、なるべく落おちついてたずねました。「あなたは山猫やまねこをしりませんか。」

Giữa bãi cỏ ấy, một gã đàn ông thấp lùn hình thù kỳ dị đang khuỵu gối, tay cầm roi da, lặng thinh nhìn về phía này. Ichirō lại gần dần, rồi giật mình đứng sững. Gã chột một mắt; con mắt hỏng trắng dã cứ giật giật; gã mặc một thứ kỳ quặc nửa như áo khoác nửa như áo hanten; mà trước hết là đôi chân — cong queo hệt chân dê, nhất là bàn chân thì lại có hình cái muôi xới cơm. Ichirō thấy rờn rợn, nhưng cố giữ bình tĩnh hỏi: “Ông có biết mèo rừng ở đâu không ạ?”

するとその男おとこは、横眼よこめで一郎いちろうの顔かおを見みて、口くちをまげてにやっとわらって言いいました。「山やまねこさまはいますぐに、ここに戻もどってお出いでやるよ。おまえは一郎いちろうさんだな。」一郎いちろうはぎょっとして、一ひとあしうしろにさがって、「え、ぼく一郎いちろうです。けれども、どうしてそれを知しってますか。」と言いいました。するとその奇体きたいな男おとこはいよいよにやにやしてしまいました。「そんだら、はがき見みだべ。」「見みました。それで来きたんです。」「あのぶんしょうは、ずいぶん下手へただべ。」と男おとこは下したをむいてかなしそうに言いいました。

Gã liếc xéo nhìn mặt Ichirō, méo miệng cười nhăn nhở: “Ngài mèo rừng sắp quay lại đây ngay bây giờ đấy. Cậu là cậu Ichirō chứ gì.” Ichirō giật thót, lùi lại một bước: “Vâng, cháu là Ichirō. Nhưng sao ông biết ạ?” Gã kỳ dị lại càng cười tít: “Thế thì cậu đọc bưu thiếp rồi chớ gì.” — “Cháu đọc rồi. Vì thế mới đến đây.” — “Cái văn ấy… vụng lắm nhỉ,” gã cúi gằm mặt, buồn thiu nói.

一郎いちろうはきのどくになって、「さあ、なかなか、ぶんしょうがうまいようでしたよ。」と言いいますと、男おとこはよろこんで、息いきをはあはあして、耳みみのあたりまでまっ赤かになり、きもののえりをひろげて、風かぜをからだに入いれながら、「あの字じもなかなかうまいか。」とききました。一郎いちろうは、おもわず笑わらいだしながら、へんじしました。「うまいですね。五年生ごねんせいだってあのくらいには書かけないでしょう。」すると男おとこは、急きゅうにまたいやな顔かおをしました。「五年生ごねんせいっていうのは、尋常じんじょう五年生ごねんせいだべ。」その声こえが、あんまり力ちからなくあわれに聞きこえましたので、一郎いちろうはあわてて言いいました。「いいえ、大学校だいがっこうの五年生ごねんせいですよ。」すると、男おとこはまたよろこんで、まるで、顔かおじゅう口くちのようにして、にたにたにたにた笑わらって叫さけびました。「あのはがきはわしが書かいたのだよ。」

Ichirō thấy tội tội, bèn nói: “Đâu có, văn hay ra phết đấy chứ ạ.” Gã sướng rơn, thở hồng hộc, đỏ mặt lên đến tận mang tai, banh cả cổ áo cho gió lùa vào người, hỏi tiếp: “Thế chữ cũng khá đấy chứ hả?” Ichirō phì cười, đáp: “Đẹp chứ ạ. Học sinh lớp năm chắc gì đã viết được thế.” Gã bỗng lại xịu mặt: “Lớp năm là lớp năm tiểu học chớ gì.” Giọng gã nghe yếu ớt thảm thương quá, Ichirō vội chữa: “Không ạ, lớp năm… trường đại học cơ!” Thế là gã lại khoái chí, cả khuôn mặt như biến thành một cái miệng, cười toe toét rồi la lên: “Tấm bưu thiếp ấy là chính tay ta viết đấy!”

一郎いちろうはおかしいのをこらえて、「ぜんたいあなたはなにですか。」とたずねますと、男おとこは急きゅうにまじめになって、「わしは山やまねこさまの馬車別当ばしゃべっとうだよ。」と言いいました。そのとき、風かぜがどうと吹ふいてきて、草くさはいちめん波なみだち、別当べっとうは、急きゅうにていねいなおじぎをしました。一郎いちろうはおかしいとおもって、ふりかえって見みますと、そこに山猫やまねこが、黄きいろな陣羽織じんばおりのようなものを着きて、緑みどりいろの眼めをまん円まるにして立たっていました。やっぱり山猫やまねこの耳みみは、立たって尖とがっているなと、一郎いちろうがおもいましたら、山やまねこはぴょこっとおじぎをしました。一郎いちろうもていねいに挨拶あいさつしました。「いや、こんにちは、きのうははがきをありがとう。」

Ichirō nén cười, hỏi: “Vậy rốt cuộc ông là gì thế ạ?” Gã bỗng nghiêm mặt: “Ta là quan đánh xe ngựa của ngài mèo rừng.” Đúng lúc ấy, một cơn gió ào tới, cả bãi cỏ dập dờn thành sóng, và gã đánh xe đột nhiên cúi chào rất mực cung kính. Ichirō thấy lạ, quay lại nhìn — thì kìa, mèo rừng đang đứng đó, khoác một thứ như chiếc chiến bào màu vàng, đôi mắt xanh lục mở tròn xoe. Ichirō vừa kịp nghĩ “quả nhiên tai mèo rừng dựng đứng và nhọn hoắt thật” thì mèo rừng đã cúi đầu chào đánh phắt một cái. Ichirō cũng lễ phép chào lại. “Chà, chào cậu, cảm ơn tấm bưu thiếp hôm qua nhé.”

山猫やまねこはひげをぴんとひっぱって、腹はらをつき出だして言いいました。「こんにちは、よくいらっしゃいました。じつはおとといから、めんどうなあらそいがおこって、ちょっと裁判さいばんにこまりましたので、あなたのお考かんがえを、うかがいたいとおもいましたのです。まあ、ゆっくり、おやすみください。じき、どんぐりどもがまいりましょう。どうもまい年とし、この裁判さいばんでくるしみます。」山やまねこは、ふところから、巻煙草まきたばこの箱はこを出だして、じぶんが一本いっぽんくわえ、「いかがですか。」と一郎いちろうに出だしました。一郎いちろうはびっくりして、「いいえ。」と言いいましたら、山やまねこはおおようにわらって、「ふふん、まだお若わかいから、」と言いいながら、マッチをしゅっと擦すって、わざと顔かおをしかめて、青あおいけむりをふうと吐はきました。山やまねこの馬車別当ばしゃべっとうは、気きを付つけの姿勢しせいで、しゃんと立たっていましたが、いかにも、たばこのほしいのをむりにこらえているらしく、なみだをぼろぼろこぼしました。

Mèo rừng vuốt thẳng bộ ria, ưỡn bụng ra nói: “Chào cậu, quý hóa quá cậu đã đến. Thật ra từ hôm kia, một vụ tranh cãi rắc rối nổ ra, phiên tòa làm tôi đau đầu quá, nên muốn thỉnh ý cậu một chút. Nào, cậu cứ thong thả nghỉ ngơi. Lũ hạt dẻ sắp kéo đến bây giờ đấy. Năm nào tôi cũng khổ sở vì phiên tòa này.” Mèo rừng rút từ trong ngực áo ra hộp thuốc cuốn, tự ngậm một điếu rồi chìa mời Ichirō: “Cậu làm một điếu?” Ichirō hết hồn: “Dạ thôi ạ.” Mèo rừng cười độ lượng: “Hừm, cậu còn trẻ quá mà,” vừa nói vừa quẹt diêm đánh xoẹt, cố tình nhăn mặt, phả ra một hơi khói xanh. Còn gã đánh xe của mèo rừng thì đứng nghiêm thẳng đơ, nhưng rõ ràng đang cố nhịn cơn thèm thuốc đến chảy cả nước mắt ròng ròng.

Từ vựng (đoạn giữa)
Từ Cách đọc Nghĩa
気味が悪い きみがわるい rờn rợn, ghê ghê
別当 べっとう quan hầu, người đánh xe (từ cổ)
陣羽織 じんばおり chiến bào (áo khoác võ tướng)
挨拶 あいさつ chào hỏi
ふところ 懐 ngực áo (chỗ đựng đồ trong kimono)
姿勢 しせい tư thế
争い あらそい cuộc tranh cãi, tranh chấp

そのとき、一郎いちろうは、足あしもとでパチパチ塩しおのはぜるような、音おとをききました。びっくりして屈かがんで見みますと、草くさのなかに、あっちにもこっちにも、黄金きんいろの円まるいものが、ぴかぴかひかっているのでした。よくみると、みんなそれは赤あかいずぼんをはいたどんぐりで、もうその数かずときたら、三百さんびゃくでも利きかないようでした。わあわあわあわあ、みんななにか云いっているのです。

Đúng lúc ấy, Ichirō nghe dưới chân có tiếng lách tách như muối nổ. Cậu giật mình cúi xuống nhìn: trong đám cỏ, chỗ này chỗ kia, những vật tròn tròn màu vàng kim đang lấp la lấp lánh. Nhìn kỹ, hóa ra toàn là những hạt dẻ mặc quần đỏ, mà số lượng thì có đến hơn ba trăm chứ không ít. Oa oa oa oa — cả lũ đang nhao nhao cãi gì đó.

「あ、来きたな。蟻ありのようにやってくる。おい、さあ、早はやくベルを鳴ならせ。今日きょうはそこが日当ひあたりがいいから、そこのとこの草くさを刈かれ。」やまねこは巻まきたばこを投なげすてて、大おおいそぎで馬車別当ばしゃべっとうにいいつけました。馬車別当ばしゃべっとうもたいへんあわてて、腰こしから大おおきな鎌かまをとりだして、ざっくざっくと、やまねこの前まえのとこの草くさを刈かりました。そこへ四方しほうの草くさのなかから、どんぐりどもが、ぎらぎらひかって、飛とび出だして、わあわあわあわあ言いいました。

“A, chúng đến rồi. Kéo đến như kiến ấy. Này, mau rung chuông đi. Hôm nay chỗ kia nắng đẹp, cắt cỏ chỗ đó đi.” Mèo rừng quăng điếu thuốc, hối hả sai gã đánh xe. Gã đánh xe cũng cuống cuồng rút từ thắt lưng ra chiếc liềm to, xoèn xoẹt cắt cỏ khoảng đất trước mặt mèo rừng. Từ bốn phía trong đám cỏ, lũ hạt dẻ sáng loáng nhảy túa ra, oa oa oa oa nhao nhao cả lên.

馬車別当ばしゃべっとうが、こんどは鈴すずをがらんがらんがらんがらんと振ふりました。音おとはかやの森もりに、がらんがらんがらんがらんとひびき、黄金きんのどんぐりどもは、すこししずかになりました。見みると山やまねこは、もういつか、黒くろい長ながい繻子しゅすの服ふくを着きて、勿体もったいらしく、どんぐりどもの前まえにすわっていました。まるで奈良ならのだいぶつさまにさんけいするみんなの絵えのようだと一郎いちろうはおもいました。別当べっとうがこんどは、革鞭かわむちを二三にさんべん、ひゅうぱちっ、ひゅう、ぱちっと鳴ならしました。空そらが青あおくすみわたり、どんぐりはぴかぴかしてじつにきれいでした。

Gã đánh xe rung chuông “keng keng keng keng”. Tiếng chuông dội vào rừng phỉ “keng keng keng keng”, lũ hạt dẻ vàng dịu bớt đi một chút. Nhìn lại thì mèo rừng, tự bao giờ, đã khoác bộ lễ phục sa tanh đen dài, ngồi vẻ trịnh trọng trước lũ hạt dẻ. Ichirō thấy hệt như bức tranh mọi người hành hương lễ tượng Đại Phật ở Nara. Gã đánh xe lại vụt roi da hai ba lần, “vun vút — đét! vun vút — đét!”. Bầu trời trong xanh vời vợi, lũ hạt dẻ lấp lánh, đẹp vô cùng.

「裁判さいばんももう今日きょうで三日目みっかめだぞ、いい加減かげんになかなおりをしたらどうだ。」山やまねこが、すこし心配しんぱいそうに、それでもむりに威張いばって言いいますと、どんぐりどもは口々くちぐちに叫さけびました。「いえいえ、だめです、なんといったって頭あたまのとがってるのがいちばんえらいんです。そしてわたしがいちばんとがっています。」「いいえ、ちがいます。まるいのがえらいのです。いちばんまるいのはわたしです。」「大おおきなことだよ。大おおきなのがいちばんえらいんだよ。わたしがいちばん大おおきいからわたしがえらいんだよ。」「そうでないよ。わたしのほうがよほど大おおきいと、きのうも判事はんじさんがおっしゃったじゃないか。」「だめだい、そんなこと。せいの高たかいのだよ。せいの高たかいことなんだよ。」「押おしっこのえらいひとだよ。押おしっこをしてきめるんだよ。」もうみんな、がやがやがやがや言いって、なにがなんだか、まるで蜂はちの巣すをつっついたようで、わけがわからなくなりました。

“Phiên tòa đến hôm nay là ngày thứ ba rồi đấy. Chúng bay liệu mà làm lành với nhau đi có được không!” — mèo rừng nói, giọng hơi lo lắng nhưng vẫn cố ra oai. Lũ hạt dẻ lập tức nhao nhao: “Không không, không được! Dù nói gì thì đứa đầu nhọn nhất vẫn là oách nhất. Mà tôi là đứa nhọn nhất!” — “Sai! Tròn mới là oách. Tròn nhất là tôi đây!” — “To mới là nhất! Đứa to nhất là oách nhất. Tôi to nhất nên tôi oách nhất!” — “Đâu có! Hôm qua chính ông thẩm phán bảo tôi to hơn hẳn còn gì!” — “Vớ vẩn! Phải là cao cơ! Cao mới đáng kể!” — “Là đứa đẩy khỏe cơ! Thi đẩy nhau mà quyết!” Cả lũ nhao nhao gâu gào, loạn xị chẳng ai hiểu ai, hệt như tổ ong bị chọc.

そこでやまねこが叫さけびました。「やかましい。ここをなんとこころえる。しずまれ、しずまれ。」別当べっとうがむちをひゅうぱちっとならしましたのでどんぐりどもは、やっとしずまりました。やまねこは、ぴんとひげをひねって言いいました。「裁判さいばんももうきょうで三日目みっかめだぞ。いい加減かげんに仲なかなおりしたらどうだ。」すると、もうどんぐりどもが、くちぐちに云いいました。「いえいえ、だめです。なんといったって、頭あたまのとがっているのがいちばんえらいのです。」「いいえ、ちがいます。まるいのがえらいのです。」「そうでないよ。大おおきなことだよ。」がやがやがやがや、もうなにがなんだかわからなくなりました。山猫やまねこが叫さけびました。「だまれ、やかましい。ここをなんと心得こころえる。しずまれしずまれ。」別当べっとうが、むちをひゅうぱちっと鳴ならしました。

Mèo rừng bèn quát: “Ồn ào! Các ngươi tưởng đây là chỗ nào hả! Trật tự, trật tự!” Gã đánh xe vụt roi “vun vút — đét!”, lũ hạt dẻ mới chịu im. Mèo rừng vuốt ria, nói: “Phiên tòa đến hôm nay là ngày thứ ba rồi. Liệu mà giảng hòa đi có được không.” Nhưng lũ hạt dẻ lại nhao nhao ngay: “Không không, không được. Đầu nhọn nhất vẫn là oách nhất!” — “Sai, tròn mới là oách!” — “Không phải, phải to cơ!” Gâu gào loạn xị, lại chẳng còn hiểu đâu vào đâu nữa. Mèo rừng thét: “Câm ngay, ồn quá! Tưởng đây là chỗ nào hả! Trật tự, trật tự!” Gã đánh xe lại vụt roi đen đét.

山猫やまねこがひげをぴんとひねって言いいました。「裁判さいばんももうきょうで三日目みっかめだぞ。いい加減かげんになかなおりをしたらどうだ。」「いえ、いえ、だめです。あたまのとがったものが……。」がやがやがやがや。山やまねこが叫さけびました。「やかましい。ここをなんとこころえる。しずまれ、しずまれ。」別当べっとうが、むちをひゅうぱちっと鳴ならし、どんぐりはみんなしずまりました。山猫やまねこが一郎いちろうにそっと申もうしました。「このとおりです。どうしたらいいでしょう。」

Mèo rừng lại vuốt ria: “Phiên tòa đến hôm nay là ngày thứ ba rồi đấy. Liệu mà làm lành đi!” — “Không, không, không được. Đứa đầu nhọn mới là…” Gâu gào, gâu gào. Mèo rừng gầm lên: “Ồn ào! Tưởng đây là chỗ nào! Trật tự, trật tự!” Gã đánh xe vụt roi đét một cái, lũ hạt dẻ mới im bặt cả. Mèo rừng khẽ quay sang Ichirō thì thầm: “Đấy, cậu thấy chưa. Giờ phải làm sao đây?”

一郎いちろうはわらってこたえました。「そんなら、こう言いいわたしたらいいでしょう。このなかでいちばんばかで、めちゃくちゃで、まるでなっていないようなのが、いちばんえらいとね。ぼくお説教せっきょうできいたんです。」山猫やまねこはなるほどというふうにうなずいて、それからいかにも気取きどって、繻子しゅすのきものの胸むねを開ひらいて、黄きいろの陣羽織じんばおりをちょっと出だしてどんぐりどもに申もうしわたしました。「よろしい。しずかにしろ。申もうしわたしだ。このなかで、いちばんえらくなくて、ばかで、めちゃくちゃで、てんでなっていなくて、あたまのつぶれたようなやつが、いちばんえらいのだ。」どんぐりは、しいんとしてしまいました。それはそれはしいんとして、堅かたまってしまいました。

Ichirō mỉm cười đáp: “Vậy thì ngài cứ tuyên thế này xem: trong đám này, đứa nào ngốc nhất, lộn xộn nhất, chẳng ra làm sao nhất — đứa ấy là oách nhất. Cháu nghe được trong một bài giảng đạo đấy.” Mèo rừng gật gù ra chiều chí phải, rồi làm bộ hết sức trịnh trọng, banh ngực áo sa tanh, để lộ một chút chiến bào vàng bên trong, tuyên với lũ hạt dẻ: “Được. Im lặng. Tuyên án đây. Trong đám các ngươi, đứa nào kém oách nhất, ngốc nhất, lộn xộn nhất, chẳng ra thể thống gì nhất, đầu bẹp dí nhất — đứa ấy là oách nhất.” Lũ hạt dẻ lặng phắc. Lặng phắc đến đông cứng cả lại.

そこで山猫やまねこは、黒くろい繻子しゅすの服ふくをぬいで、額ひたいの汗あせをぬぐいながら、一郎いちろうの手てをとりました。別当べっとうも大おおよろこびで、五六ごろくぺん、鞭むちをひゅうぱちっ、ひゅうぱちっ、ひゅうひゅうぱちっと鳴ならしました。やまねこが言いいました。「どうもありがとうございました。これほどのひどい裁判さいばんを、まるで一分半いっぷんはんでかたづけてくださいました。どうかこれからわたしの裁判所さいばんしょの、名誉判事めいよはんじになってください。これからも、葉書はがきが行いったら、どうか来きてくださいませんか。そのたびにお礼れいはいたします。」「承知しょうちしました。お礼れいなんかいりませんよ。」「いいえ、お礼れいはどうかとってください。わたしのじんかくにかかわりますから。そしてこれからは、葉書はがきにかねた一郎いちろうどのと書かいて、こちらを裁判所さいばんしょとしますが、ようございますか。」

Mèo rừng bèn cởi bộ lễ phục sa tanh đen, vừa lau mồ hôi trán vừa nắm lấy tay Ichirō. Gã đánh xe cũng mừng rơn, vụt roi năm sáu phát liền, “vun vút — đét! vun vút — đét!”. Mèo rừng nói: “Đội ơn cậu quá. Một phiên tòa hóc búa nhường này mà cậu xử gọn trong đúng một phút rưỡi. Từ nay xin cậu làm thẩm phán danh dự cho tòa án của tôi nhé. Sau này hễ có bưu thiếp gửi đến, mong cậu lại quá bộ. Mỗi lần như thế tôi đều xin hậu tạ.” — “Cháu nhận lời ạ. Nhưng hậu tạ thì không cần đâu.” — “Không không, xin cậu cứ nhận cho. Chuyện này liên quan đến nhân cách của tôi đấy. Với lại từ nay, trên bưu thiếp tôi sẽ đề ‘Kính gửi Ngài Kaneta Ichirō’, còn bên này ghi là ‘Tòa án’ — thế được chứ ạ?”

一郎いちろうが「ええ、かまいません。」と申もうしますと、やまねこはまだなにか言いいたそうに、しばらくひげをひねって、眼めをぱちぱちさせていましたが、とうとう決心けっしんしたらしく言いい出だしました。「それから、はがきの文句もんくですが、これからは、用事ようじこれありに付つき、明日みょうにち出頭しゅっとうすべしと書かいてどうでしょう。」一郎いちろうはわらって言いいました。「さあ、なんだか変へんですね。そいつだけはやめた方ほうがいいでしょう。」山猫やまねこは、どうも言いいようがまずかった、いかにも残念ざんねんだというふうに、しばらくひげをひねったまま、下したを向むいていましたが、やっとあきらめて言いいました。「それでは、文句もんくはいままでのとおりにしましょう。そこで今日きょうのお礼れいですが、あなたは黄金きんのどんぐり一升いっしょうと、塩鮭しおざけのあたまと、どっちをおすきですか。」「黄金きんのどんぐりがすきです。」

Ichirō đáp “Vâng, được ạ,” thì mèo rừng vẫn ra vẻ còn muốn nói gì đó, vuốt ria một hồi, chớp chớp mắt, rồi rốt cuộc như đã hạ quyết tâm, buột miệng: “Với lại, về câu chữ trên bưu thiếp ấy mà — từ nay tôi viết kiểu công văn: ‘Nay có công vụ, ngày mai phải đến trình diện’ — cậu thấy sao?” Ichirō bật cười: “Chà, nghe cứ kỳ kỳ thế nào ấy ạ. Riêng khoản đó thì thôi đi thì hơn.” Mèo rừng ra chiều tiếc nuối lắm, như thể “mình nói kiểu gì mà hớ thế”, cứ vuốt ria cúi mặt hồi lâu, rồi cuối cùng đành chịu: “Vậy thì câu chữ cứ để như trước giờ vậy. Còn về quà tạ hôm nay — cậu thích một thăng hạt dẻ vàng, hay thích cái đầu cá hồi muối?” — “Cháu thích hạt dẻ vàng ạ.”

山猫やまねこは、鮭さけの頭あたまでなくて、まあよかったというように、口早くちばやに馬車別当ばしゃべっとうに云いいました。「どんぐりを一升いっしょう早はやくもってこい。一升いっしょうにたりなかったら、めっきのどんぐりもまぜてこい。はやく。」別当べっとうは、さっきのどんぐりをますに入いれて、はかって叫さけびました。「ちょうど一升いっしょうあります。」

Mèo rừng, ra chiều “may quá không phải cái đầu cá hồi”, vội vã sai gã đánh xe: “Mau mang một thăng hạt dẻ lại đây. Không đủ một thăng thì trộn thêm cả hạt dẻ mạ vàng vào. Nhanh lên!” Gã đánh xe đổ đám hạt dẻ ban nãy vào đấu, đong xong hô to: “Vừa đúng một thăng ạ!”

山やまねこの陣羽織じんばおりが風かぜにばたばた鳴なりました。そこで山やまねこは、大おおきく延のびあがって、めをつぶって、半分はんぶんあくびをしながら言いいました。「よし、はやく馬車ばしゃのしたくをしろ。」白しろい大おおきなきのこでこしらえた馬車ばしゃが、ひっぱりだされました。そしてなんだかねずみいろの、おかしな形かたちの馬うまがついています。「さあ、おうちへお送おくりいたしましょう。」山猫やまねこが言いいました。二人ふたりは馬車ばしゃにのり別当べっとうは、どんぐりのますを馬車ばしゃのなかに入いれました。ひゅう、ぱちっ。馬車ばしゃは草地くさちをはなれました。木きや藪やぶがけむりのようにぐらぐらゆれました。

Chiến bào của mèo rừng phần phật bay trong gió. Mèo rừng vươn vai một cái thật dài, nhắm mắt, vừa ngáp dở vừa nói: “Được rồi, mau chuẩn bị xe ngựa.” Một cỗ xe làm bằng cây nấm trắng khổng lồ được kéo ra, thắng vào đó là một con ngựa màu xám tro, hình thù cũng kỳ cục nốt. “Nào, để tôi đưa cậu về nhà,” mèo rừng nói. Hai người lên xe, gã đánh xe đặt đấu hạt dẻ vào trong xe. Vun vút — đét! Cỗ xe rời bãi cỏ. Cây cối, lùm bụi chao đảo dập dờn như khói.

一郎いちろうは黄金きんのどんぐりを見み、やまねこはとぼけたかおつきで、遠とおくをみていました。馬車ばしゃが進すすむにしたがって、どんぐりはだんだん光ひかりがうすくなって、まもなく馬車ばしゃがとまったときは、あたりまえの茶ちゃいろのどんぐりに変かわっていました。そして、山やまねこの黄きいろな陣羽織じんばおりも、別当べっとうも、きのこの馬車ばしゃも、一度いちどに見みえなくなって、一郎いちろうはじぶんのうちの前まえに、どんぐりを入いれたますを持もって立たっていました。それからあと、山やまねこ拝はいというはがきは、もうきませんでした。やっぱり、出頭しゅっとうすべしと書かいてもいいと言いえばよかったと、一郎いちろうはときどき思おもうのです。

Ichirō mải ngắm đám hạt dẻ vàng, còn mèo rừng thì làm mặt tỉnh bơ nhìn ra xa. Xe càng đi, ánh vàng của hạt dẻ càng nhạt dần, và khi xe dừng lại chẳng bao lâu sau, chúng đã biến thành những hạt dẻ nâu bình thường. Rồi cả chiến bào vàng của mèo rừng, cả gã đánh xe, cả cỗ xe nấm — tất cả cùng lúc biến mất, và Ichirō thấy mình đang đứng trước cửa nhà, tay ôm chiếc đấu đựng hạt dẻ. Từ đó về sau, những tấm bưu thiếp ký tên “Mèo rừng — kính thư” không bao giờ đến nữa. Thỉnh thoảng Ichirō lại nghĩ: biết thế hồi ấy mình cứ bảo viết “phải đến trình diện” cũng được, có phải hơn không.

Từ vựng (đoạn cuối)
Từ Cách đọc Nghĩa
口々に くちぐちに (mọi người) nhao nhao, mỗi người một câu
威張る いばる ra oai, lên mặt
判事 はんじ thẩm phán
申し渡す もうしわたす tuyên (án), phán
名誉 めいよ danh dự
出頭 しゅっとう trình diện (từ hành chính)
一升 いっしょう một thăng (~1,8 lít)
したく 支度 sự chuẩn bị
Nguồn văn bản gốc: 宮沢賢治「どんぐりと山猫」— tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫) (bản 新字新仮名).
底本:「注文の多い料理店」新潮文庫、新潮社。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.

📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.

Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.

Gửi phản hồi

Trending

Khám phá thêm từ Học tập hiệu quả, thành công dễ dàng.

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc