手袋を買いに — Đi mua găng tay

Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.


新美南吉 (Niimi Nankichi) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng

寒さむい冬ふゆが北方ほっぽうから、狐きつねの親子おやこの棲すんでいる森もりへもやって来きました。

Mùa đông giá lạnh từ phương bắc cũng đã tràn về khu rừng nơi hai mẹ con nhà cáo sinh sống.

或ある朝あさ洞穴ほらあなから子供こどもの狐きつねが出でようとしましたが、「あっ」と叫さけんで眼めを抑おさえながら母かあさん狐ぎつねのところへころげて来きました。「母かあちゃん、眼めに何なにか刺ささった、ぬいて頂戴ちょうだい早はやく早はやく」と言いいました。

Một buổi sáng nọ, cáo con vừa định bước ra khỏi hang thì “Á!” — nó kêu lên, hai tay ôm mắt, lăn bổ về phía cáo mẹ. “Mẹ ơi, có cái gì đâm vào mắt con, mẹ rút ra cho con, nhanh lên, nhanh lên!”

母かあさん狐ぎつねがびっくりして、あわてふためきながら、眼めを抑おさえている子供こどもの手てを恐おそる恐おそるとりのけて見みましたが、何なにも刺ささってはいませんでした。母かあさん狐ぎつねは洞穴ほらあなの入口いりぐちから外そとへ出でて始はじめてわけが解わかりました。昨夜ゆうべのうちに、真白まっしろな雪ゆきがどっさり降ふったのです。その雪ゆきの上うえからお陽ひさまがキラキラと照てらしていたので、雪ゆきは眩まぶしいほど反射はんしゃしていたのです。雪ゆきを知しらなかった子供こどもの狐きつねは、あまり強つよい反射はんしゃをうけたので、眼めに何なにか刺ささったと思おもったのでした。

Cáo mẹ hoảng hồn, cuống quýt nhẹ nhàng gỡ bàn tay đang ôm mắt của con ra xem, nhưng chẳng có gì đâm vào cả. Ra tới cửa hang, cáo mẹ mới hiểu chuyện: đêm qua, tuyết trắng tinh đã rơi ngập trời. Mặt trời chiếu lấp lánh trên nền tuyết, khiến tuyết phản chiếu chói lòa. Cáo con chưa từng biết tuyết là gì, bị ánh phản chiếu quá mạnh, nên mới tưởng có gì đâm vào mắt.

子供こどもの狐きつねは遊あそびに行いきました。真綿まわたのように柔やわらかい雪ゆきの上うえを駈かけ廻まわると、雪ゆきの粉こが、しぶきのように飛とび散ちって小ちいさい虹にじがすっと映うつるのでした。

Cáo con chạy đi chơi. Khi nó nhảy nhót trên nền tuyết mềm như bông, bụi tuyết bắn tung lên như bọt nước, thoáng hiện lên một chiếc cầu vồng bé xíu.

すると突然とつぜん、うしろで、「どたどた、ざーっ」と物凄ものすごい音おとがして、パン粉このような粉雪こなゆきが、ふわーっと子狐こぎつねにおっかぶさって来きました。子狐こぎつねはびっくりして、雪ゆきの中なかにころがるようにして十米じゅうメートルも向むこうへ逃にげました。何なんだろうと思おもってふり返かえって見みましたが何なにもいませんでした。それは樅もみの枝えだから雪ゆきがなだれ落おちたのでした。まだ枝えだと枝えだの間あいだから白しろい絹糸きぬいとのように雪ゆきがこぼれていました。

Bỗng nhiên phía sau vang lên tiếng động kinh hoàng “rầm rầm, rào~”, rồi một đám tuyết bột mịn như bột bánh mì phủ ụp lên người cáo con. Cáo con hết hồn, lăn lộn trong tuyết chạy bắn ra xa cả chục mét. Nó ngoái lại xem là cái gì, nhưng chẳng có ai cả — chỉ là tuyết trên cành cây linh sam lở xuống. Giữa những tán cành, tuyết vẫn còn rơi lả tả như những sợi tơ trắng.

間まもなく洞穴ほらあなへ帰かえって来きた子狐こぎつねは、「お母かあちゃん、お手々ててが冷つめたい、お手々ててがちんちんする」と言いって、濡ぬれて牡丹色ぼたんいろになった両手りょうてを母かあさん狐ぎつねの前まえにさしだしました。母かあさん狐ぎつねは、その手てに、は――っと息いきをふっかけて、ぬくとい母かあさんの手てでやんわり包つつんでやりながら、「もうすぐ暖あたたかくなるよ、雪ゆきをさわると、すぐ暖あたたかくなるもんだよ」といいましたが、かあいい坊ぼうやの手てに霜焼しもやけができてはかわいそうだから、夜よるになったら、町まちまで行いって、坊ぼうやのお手々ててにあうような毛糸けいとの手袋てぶくろを買かってやろうと思おもいました。

Lát sau, cáo con về hang, nói: “Mẹ ơi, tay con lạnh quá, tay con buốt cóng cả rồi,” rồi chìa hai bàn tay ướt sũng đã đỏ ửng màu hoa mẫu đơn ra trước mặt mẹ. Cáo mẹ hà hơi “hà—” vào đôi tay ấy, lấy bàn tay ấm áp của mình bọc nhẹ lấy tay con, dỗ dành: “Sắp ấm ngay thôi, nghịch tuyết xong thì tay ấm lại ngay ấy mà.” Nhưng nghĩ đến đôi tay bé bỏng đáng yêu của con mà bị cước thì tội quá, nên cáo mẹ định bụng tối đến sẽ ra phố mua cho con một đôi găng tay len vừa với tay nó.

Từ vựng (đoạn đầu)
Từ Cách đọc Nghĩa
洞穴 ほらあな hang động
刺さる ささる bị đâm vào, cắm vào
恐る恐る おそるおそる rón rén, sợ sệt
反射 はんしゃ sự phản chiếu
眩しい まぶしい chói mắt
粉雪 こなゆき tuyết bột (mịn)
霜焼 しもやけ cước (do lạnh)
毛糸 けいと sợi len
手袋 てぶくろ găng tay

暗くらい暗くらい夜よるが風呂敷ふろしきのような影かげをひろげて野原のはらや森もりを包つつみにやって来きましたが、雪ゆきはあまり白しろいので、包つつんでも包つつんでも白しろく浮うかびあがっていました。

Màn đêm đen thẫm trải chiếc bóng như tấm khăn gói khổng lồ, phủ lên cánh đồng và khu rừng; nhưng tuyết trắng quá, phủ mãi phủ mãi mà vẫn cứ trăng trắng nổi lên.

親子おやこの銀狐ぎんぎつねは洞穴ほらあなから出でました。子供こどもの方ほうはお母かあさんのお腹なかの下したへはいりこんで、そこからまんまるな眼めをぱちぱちさせながら、あっちやこっちを見みながら歩あるいて行いきました。

Hai mẹ con cáo bạc ra khỏi hang. Cáo con rúc vào dưới bụng mẹ, từ đó chớp chớp đôi mắt tròn xoe, vừa đi vừa ngó nghiêng hết bên này đến bên kia.

やがて、行手ゆくてにぽっつりあかりが一ひとつ見みえ始はじめました。それを子供こどもの狐きつねが見みつけて、「母かあちゃん、お星ほしさまは、あんな低ひくいところにも落おちてるのねえ」とききました。「あれはお星ほしさまじゃないのよ」と言いって、その時とき母かあさん狐ぎつねの足あしはすくんでしまいました。「あれは町まちの灯ひなんだよ」

Rồi phía trước, một đốm sáng lẻ loi hiện ra. Cáo con trông thấy, hỏi: “Mẹ ơi, ông sao cũng rơi xuống chỗ thấp thế kia hả mẹ?” — “Không phải ông sao đâu con,” cáo mẹ đáp, và ngay lúc ấy chân cáo mẹ bủn rủn khuỵu lại. “Đó là đèn của phố đấy.”

その町まちの灯ひを見みた時とき、母かあさん狐ぎつねは、ある時とき町まちへお友達ともだちと出でかけて行いって、とんだめにあったことを思出おもいだしました。およしなさいっていうのもきかないで、お友達ともだちの狐きつねが、或ある家いえの家鴨あひるを盗ぬすもうとしたので、お百姓ひゃくしょうに見みつかって、さんざ追おいまくられて、命いのちからがら逃にげたことでした。

Nhìn ánh đèn phố, cáo mẹ nhớ lại một lần cùng bạn ra phố và gặp chuyện tày đình. Can mãi cũng không nghe, cô bạn cáo cứ định trộm con vịt nhà người ta, bị bác nông dân bắt gặp, hai đứa bị rượt đuổi tơi bời, chạy thoát thân trong đường tơ kẽ tóc.

「母かあちゃん何なにしてんの、早はやく行いこうよ」と子供こどもの狐きつねがお腹なかの下したから言いうのでしたが、母かあさん狐ぎつねはどうしても足あしがすすまないのでした。そこで、しかたがないので、坊ぼうやだけを一人ひとりで町まちまで行いかせることになりました。

“Mẹ làm gì thế, đi nhanh lên mẹ,” cáo con giục từ dưới bụng mẹ, nhưng chân cáo mẹ nhất định không chịu bước. Thế là chẳng còn cách nào khác, đành để mình cậu con đi vào phố một mình.

「坊ぼうやお手々ててを片方かたほうお出だし」とお母かあさん狐ぎつねがいいました。その手てを、母かあさん狐ぎつねはしばらく握にぎっている間あいだに、可愛かわいいい人間にんげんの子供こどもの手てにしてしまいました。坊ぼうやの狐きつねはその手てをひろげたり握にぎったり、抓つねって見みたり、嗅かいで見みたりしました。

“Con chìa một bên tay ra nào,” cáo mẹ bảo. Cáo mẹ nắm bàn tay ấy một lúc, và nó biến thành một bàn tay trẻ con loài người xinh xắn. Cáo con xòe ra nắm vào, thử véo véo, thử ngửi ngửi bàn tay mới.

「何なんだか変へんだな母かあちゃん、これなあに?」と言いって、雪ゆきあかりに、またその、人間にんげんの手てに変かえられてしまった自分じぶんの手てをしげしげと見みつめました。

“Lạ lạ thế nào ấy mẹ ơi, cái gì thế này?” — nó nói, rồi dưới ánh tuyết, lại chăm chú ngắm nghía bàn tay của mình đã bị biến thành tay người.

「それは人間にんげんの手てよ。いいかい坊ぼうや、町まちへ行いったらね、たくさん人間にんげんの家いえがあるからね、まず表おもてに円まるいシャッポの看板かんばんのかかっている家いえを探さがすんだよ。それが見みつかったらね、トントンと戸とを叩たたいて、今晩こんばんはって言いうんだよ。そうするとね、中なかから人間にんげんが、すこうし戸とをあけるからね、その戸との隙間すきまから、こっちの手て、ほらこの人間にんげんの手てをさし入いれてね、この手てにちょうどいい手袋てぶくろ頂戴ちょうだいって言いうんだよ、わかったね、決けっして、こっちのお手々ててを出だしちゃ駄目だめよ」と母かあさん狐ぎつねは言いいきかせました。

“Đó là tay người đấy. Nghe mẹ dặn nhé: vào phố sẽ thấy rất nhiều nhà của loài người, con hãy tìm ngôi nhà treo tấm biển hình chiếc mũ tròn trước cửa. Tìm thấy rồi thì gõ cửa cộc cộc, nói ‘Xin chào buổi tối’. Người ta sẽ hé cửa một chút, con luồn bàn tay này — bàn tay người này này — qua khe cửa, rồi nói ‘Cho cháu đôi găng tay vừa với bàn tay này ạ’. Nhớ chưa? Tuyệt đối không được chìa bàn tay bên kia ra đâu đấy,” cáo mẹ căn dặn.

「どうして?」と坊ぼうやの狐きつねはききかえしました。「人間にんげんはね、相手あいてが狐きつねだと解わかると、手袋てぶくろを売うってくれないんだよ、それどころか、掴つかまえて檻おりの中なかへ入いれちゃうんだよ、人間にんげんってほんとに恐こわいものなんだよ」「ふーん」

“Tại sao ạ?” cáo con hỏi lại. “Vì loài người ấy mà, hễ biết đối phương là cáo thì sẽ không bán găng tay đâu. Chẳng những thế còn tóm lấy nhốt vào cũi nữa. Loài người đáng sợ lắm con ạ.” — “Hừm…”

「決けっして、こっちの手てを出だしちゃいけないよ、こっちの方ほう、ほら人間にんげんの手ての方ほうをさしだすんだよ」と言いって、母かあさんの狐きつねは、持もって来きた二ふたつの白銅貨はくどうかを、人間にんげんの手ての方ほうへ握にぎらせてやりました。

“Tuyệt đối không được chìa tay bên này ra nhé. Bên này cơ — bàn tay người này cơ mà,” cáo mẹ dặn đi dặn lại, rồi đặt hai đồng xu bạc trắng mang theo vào bàn tay người của con, bắt nắm chặt.

Từ vựng (đoạn giữa — lời mẹ dặn)
Từ Cách đọc Nghĩa
足がすくむ あしがすくむ chân bủn rủn (vì sợ)
命からがら いのちからがら thoát thân trong gang tấc
看板 かんばん biển hiệu
隙間 すきま khe hở
決して〜ない けっして tuyệt đối không ~ (ngữ pháp N3)
掴まえる つかまえる tóm, bắt lấy
檻 おり cái cũi, chuồng
白銅貨 はくどうか đồng xu bạc trắng
言いきかせる いいきかせる căn dặn kỹ

子供こどもの狐きつねは、町まちの灯ひを目めあてに、雪ゆきあかりの野原のはらをよちよちやって行いきました。始はじめのうちは一ひとつきりだった灯ひが二ふたつになり三みっつになり、はては十とおにもふえました。狐きつねの子供こどもはそれを見みて、灯ひには、星ほしと同おなじように、赤あかいのや黄きいのや青あおいのがあるんだなと思おもいました。やがて町まちにはいりましたが通とおりの家々いえいえはもうみんな戸とを閉しめてしまって、高たかい窓まどから暖あたたかそうな光ひかりが、道みちの雪ゆきの上うえに落おちているばかりでした。

Cáo con nhắm hướng ánh đèn phố, lũn cũn băng qua cánh đồng sáng mờ ánh tuyết. Ban đầu chỉ có một đốm đèn, rồi thành hai, thành ba, cuối cùng tăng lên cả chục đốm. Cáo con nhìn và nghĩ: hóa ra đèn cũng giống sao, có cái đỏ, cái vàng, cái xanh. Rồi nó vào đến phố, nhưng nhà cửa hai bên đường đều đã đóng cửa cả, chỉ còn thứ ánh sáng ấm áp từ những ô cửa sổ trên cao rớt xuống mặt tuyết trên đường.

けれど表おもての看板かんばんの上うえには大たいてい小ちいさな電燈でんとうがともっていましたので、狐きつねの子こは、それを見みながら、帽子屋ぼうしやを探さがして行いきました。自転車じてんしゃの看板かんばんや、眼鏡めがねの看板かんばんやその他ほかいろんな看板かんばんが、あるものは、新あたらしいペンキで画かかれ、或あるものは、古ふるい壁かべのようにはげていましたが、町まちに始はじめて出でて来きた子狐こぎつねにはそれらのものがいったい何なんであるか分わからないのでした。

Nhưng phía trên các biển hiệu ngoài cửa thường có thắp một bóng đèn nhỏ, nên cáo con vừa nhìn biển vừa đi tìm tiệm mũ. Biển xe đạp, biển mắt kính, và bao nhiêu biển hiệu khác — cái thì mới sơn bóng loáng, cái thì tróc lở như bức tường cũ — nhưng với chú cáo con lần đầu ra phố, nó chẳng hiểu những thứ đó rốt cuộc là gì.

とうとう帽子屋ぼうしやがみつかりました。お母かあさんが道々みちみちよく教おしえてくれた、黒くろい大おおきなシルクハットの帽子ぼうしの看板かんばんが、青あおい電燈でんとうに照てらされてかかっていました。

Cuối cùng nó cũng tìm thấy tiệm mũ. Tấm biển hình chiếc mũ chóp cao đen to đúng như mẹ dặn kỹ suốt dọc đường, treo dưới ánh đèn xanh.

子狐こぎつねは教おしえられた通とおり、トントンと戸とを叩たたきました。「今晩こんばんは」すると、中なかでは何なにかことこと音おとがしていましたがやがて、戸とが一寸いっすんほどゴロリとあいて、光ひかりの帯おびが道みちの白しろい雪ゆきの上うえに長ながく伸のびました。

Cáo con làm đúng như lời dặn, gõ cửa cộc cộc. “Xin chào buổi tối.” Bên trong có tiếng lạch cạch, rồi cánh cửa hé mở chừng một tấc, một dải ánh sáng đổ dài trên mặt tuyết trắng ngoài đường.

子狐こぎつねはその光ひかりがまばゆかったので、めんくらって、まちがった方ほうの手てを、――お母かあさまが出だしちゃいけないと言いってよく聞きかせた方ほうの手てをすきまからさしこんでしまいました。「このお手々ててにちょうどいい手袋てぶくろ下ください」

Ánh sáng chói quá làm cáo con quáng mắt, luống cuống chìa nhầm tay — đúng cái bàn tay mẹ đã dặn đi dặn lại là không được chìa ra — luồn qua khe cửa. “Cho cháu đôi găng tay vừa với bàn tay này ạ.”

すると帽子屋ぼうしやさんは、おやおやと思おもいました。狐きつねの手てです。狐きつねの手てが手袋てぶくろをくれと言いうのです。これはきっと木この葉はで買かいに来きたんだなと思おもいました。そこで、「先さきにお金かねを下ください」と言いいました。子狐こぎつねはすなおに、握にぎって来きた白銅貨はくどうかを二ふたつ帽子屋ぼうしやさんに渡わたしました。帽子屋ぼうしやさんはそれを人差指ひとさしゆびのさきにのっけて、カチ合あわせて見みると、チンチンとよい音おとがしましたので、これは木この葉はじゃない、ほんとのお金かねだと思おもいましたので、棚たなから子供用こどもようの毛糸けいとの手袋てぶくろをとり出だして来きて子狐こぎつねの手てに持もたせてやりました。子狐こぎつねは、お礼れいを言いってまた、もと来きた道みちを帰かえり始はじめました。

Ông chủ tiệm mũ nhìn mà nghĩ: ơ kìa. Tay cáo. Một bàn tay cáo đang xin mua găng. Chắc chắn nó định lấy lá cây giả làm tiền để mua đây, ông nghĩ vậy. Thế là ông nói: “Đưa tiền trước đã.” Cáo con ngoan ngoãn đưa hai đồng xu bạc nắm trong tay cho ông. Ông chủ đặt chúng lên đầu ngón trỏ, gõ vào nhau nghe “keng keng” thanh và ròn, biết là không phải lá cây mà là tiền thật, bèn lấy từ trên kệ xuống một đôi găng tay len trẻ em, đặt vào tay cáo con. Cáo con cảm ơn rồi men theo đường cũ quay về.

「お母かあさんは、人間にんげんは恐おそろしいものだって仰有おっしゃったがちっとも恐おそろしくないや。だって僕ぼくの手てを見みてもどうもしなかったもの」と思おもいました。けれど子狐こぎつねはいったい人間にんげんなんてどんなものか見みたいと思おもいました。

“Mẹ bảo loài người đáng sợ lắm, mà có đáng sợ tí nào đâu. Người ta nhìn thấy tay mình mà có làm gì đâu,” nó nghĩ. Nhưng rồi cáo con lại tò mò muốn xem con người rốt cuộc trông như thế nào.

ある窓まどの下したを通とおりかかると、人間にんげんの声こえがしていました。何なんというやさしい、何なんという美うつくしい、何なんと言いうおっとりした声こえなんでしょう。

Khi đi ngang dưới một ô cửa sổ, nó nghe thấy tiếng người. Ôi, giọng nói gì mà dịu dàng đến thế, đẹp đến thế, êm ái đến thế.

「ねむれ ねむれ
母ははの胸むねに、
ねむれ ねむれ
母ははの手てに――」

“Ngủ đi, ngủ đi
trong lòng mẹ đây,
ngủ đi, ngủ đi
trong tay mẹ đây—”

子狐こぎつねはその唄声うたごえは、きっと人間にんげんのお母かあさんの声こえにちがいないと思おもいました。だって、子狐こぎつねが眠ねむる時ときにも、やっぱり母かあさん狐ぎつねは、あんなやさしい声こえでゆすぶってくれるからです。

Cáo con nghĩ tiếng hát ấy chắc chắn là giọng của một người mẹ loài người. Bởi vì mỗi khi cáo con ngủ, mẹ cáo cũng ru nó bằng giọng dịu dàng hệt như thế.

するとこんどは、子供こどもの声こえがしました。「母かあちゃん、こんな寒さむい夜よるは、森もりの子狐こぎつねは寒さむい寒さむいって啼ないてるでしょうね」

Rồi lần này là tiếng một đứa trẻ: “Mẹ ơi, đêm lạnh thế này, chắc cáo con trong rừng đang kêu ‘lạnh quá, lạnh quá’ mẹ nhỉ?”

すると母かあさんの声こえが、「森もりの子狐こぎつねもお母かあさん狐ぎつねのお唄うたをきいて、洞穴ほらあなの中なかで眠ねむろうとしているでしょうね。さあ坊ぼうやも早はやくねんねしなさい。森もりの子狐こぎつねと坊ぼうやとどっちが早はやくねんねするか、きっと坊ぼうやの方ほうが早はやくねんねしますよ」

Rồi giọng người mẹ đáp: “Cáo con trong rừng chắc cũng đang nghe mẹ cáo hát ru, sắp thiếp ngủ trong hang rồi đấy. Nào, con của mẹ cũng mau ngủ đi. Thi xem cáo con trong rừng với con ai ngủ trước nào — chắc chắn là con ngủ trước cho xem.”

それをきくと子狐こぎつねは急きゅうにお母かあさんが恋こいしくなって、お母かあさん狐ぎつねの待まっている方ほうへ跳とんで行いきました。

Nghe vậy, cáo con bỗng nhớ mẹ da diết, ba chân bốn cẳng phóng về phía mẹ đang đợi.

お母かあさん狐ぎつねは、心配しんぱいしながら、坊ぼうやの狐きつねの帰かえって来くるのを、今いまか今いまかとふるえながら待まっていましたので、坊ぼうやが来くると、暖あたたかい胸むねに抱だきしめて泣なきたいほどよろこびました。

Cáo mẹ thì đang lo lắng, run rẩy ngóng con về từng phút từng giây, nên khi cậu con xuất hiện, cáo mẹ ôm chặt con vào lồng ngực ấm áp, mừng đến muốn khóc.

二匹にひきの狐きつねは森もりの方ほうへ帰かえって行いきました。月つきが出でたので、狐きつねの毛けなみが銀色ぎんいろに光ひかり、その足あしあとには、コバルトの影かげがたまりました。

Hai mẹ con cáo quay về phía khu rừng. Trăng đã lên, bộ lông cáo ánh lên màu bạc, và trong những vết chân chúng để lại, đọng những bóng xanh cô-ban.

「母かあちゃん、人間にんげんってちっとも恐こわかないや」「どうして?」「坊ぼう、間違まちがえてほんとうのお手々てて出だしちゃったの。でも帽子屋ぼうしやさん、掴つかまえやしなかったもの。ちゃんとこんないい暖あたたかい手袋てぶくろくれたもの」と言いって手袋てぶくろのはまった両手りょうてをパンパンやって見みせました。お母かあさん狐ぎつねは、「まあ!」とあきれましたが、「ほんとうに人間にんげんはいいものかしら。ほんとうに人間にんげんはいいものかしら」とつぶやきました。

“Mẹ ơi, loài người chẳng đáng sợ tí nào.” — “Sao thế?” — “Con lỡ chìa nhầm bàn tay thật ra. Thế mà ông tiệm mũ có bắt con đâu. Còn cho con đôi găng tay ấm ơi là ấm thế này này,” nó nói rồi vỗ vỗ hai bàn tay đeo găng vào nhau khoe mẹ. Cáo mẹ sửng sốt “Trời ơi!”, rồi lẩm bẩm: “Chẳng lẽ loài người tốt thật sao? Chẳng lẽ loài người tốt thật sao?”

Từ vựng (đoạn cuối)
Từ Cách đọc Nghĩa
目あて めあて đích nhắm, mục tiêu
帽子屋 ぼうしや tiệm mũ
人差指 ひとさしゆび ngón trỏ
すなおに 素直に ngoan ngoãn, thật thà
仰有る おっしゃる nói (kính ngữ của 言う)
恋しい こいしい nhớ nhung da diết
抱きしめる だきしめる ôm chặt
あきれる — sửng sốt, ngán ngẩm
つぶやく — lẩm bẩm, thì thầm
Nguồn văn bản gốc: 新美南吉「手袋を買いに」— tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「新美南吉童話集」岩波文庫、岩波書店、1996年。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.

📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.

Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.

Để lại một bình luận

Trending

Khám phá thêm từ Học tập hiệu quả, thành công dễ dàng.

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc