Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.
新美南吉 (Niimi Nankichi) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng
寒い冬が北方から、狐の親子の棲んでいる森へもやって来ました。
Mùa đông giá lạnh từ phương bắc cũng đã tràn về khu rừng nơi hai mẹ con nhà cáo sinh sống.
或朝洞穴から子供の狐が出ようとしましたが、「あっ」と叫んで眼を抑えながら母さん狐のところへころげて来ました。「母ちゃん、眼に何か刺さった、ぬいて頂戴早く早く」と言いました。
Một buổi sáng nọ, cáo con vừa định bước ra khỏi hang thì “Á!” — nó kêu lên, hai tay ôm mắt, lăn bổ về phía cáo mẹ. “Mẹ ơi, có cái gì đâm vào mắt con, mẹ rút ra cho con, nhanh lên, nhanh lên!”
母さん狐がびっくりして、あわてふためきながら、眼を抑えている子供の手を恐る恐るとりのけて見ましたが、何も刺さってはいませんでした。母さん狐は洞穴の入口から外へ出て始めてわけが解りました。昨夜のうちに、真白な雪がどっさり降ったのです。その雪の上からお陽さまがキラキラと照していたので、雪は眩しいほど反射していたのです。雪を知らなかった子供の狐は、あまり強い反射をうけたので、眼に何か刺さったと思ったのでした。
Cáo mẹ hoảng hồn, cuống quýt nhẹ nhàng gỡ bàn tay đang ôm mắt của con ra xem, nhưng chẳng có gì đâm vào cả. Ra tới cửa hang, cáo mẹ mới hiểu chuyện: đêm qua, tuyết trắng tinh đã rơi ngập trời. Mặt trời chiếu lấp lánh trên nền tuyết, khiến tuyết phản chiếu chói lòa. Cáo con chưa từng biết tuyết là gì, bị ánh phản chiếu quá mạnh, nên mới tưởng có gì đâm vào mắt.
子供の狐は遊びに行きました。真綿のように柔かい雪の上を駈け廻ると、雪の粉が、しぶきのように飛び散って小さい虹がすっと映るのでした。
Cáo con chạy đi chơi. Khi nó nhảy nhót trên nền tuyết mềm như bông, bụi tuyết bắn tung lên như bọt nước, thoáng hiện lên một chiếc cầu vồng bé xíu.
すると突然、うしろで、「どたどた、ざーっ」と物凄い音がして、パン粉のような粉雪が、ふわーっと子狐におっかぶさって来ました。子狐はびっくりして、雪の中にころがるようにして十米も向こうへ逃げました。何だろうと思ってふり返って見ましたが何もいませんでした。それは樅の枝から雪がなだれ落ちたのでした。まだ枝と枝の間から白い絹糸のように雪がこぼれていました。
Bỗng nhiên phía sau vang lên tiếng động kinh hoàng “rầm rầm, rào~”, rồi một đám tuyết bột mịn như bột bánh mì phủ ụp lên người cáo con. Cáo con hết hồn, lăn lộn trong tuyết chạy bắn ra xa cả chục mét. Nó ngoái lại xem là cái gì, nhưng chẳng có ai cả — chỉ là tuyết trên cành cây linh sam lở xuống. Giữa những tán cành, tuyết vẫn còn rơi lả tả như những sợi tơ trắng.
間もなく洞穴へ帰って来た子狐は、「お母ちゃん、お手々が冷たい、お手々がちんちんする」と言って、濡れて牡丹色になった両手を母さん狐の前にさしだしました。母さん狐は、その手に、は――っと息をふっかけて、ぬくとい母さんの手でやんわり包んでやりながら、「もうすぐ暖くなるよ、雪をさわると、すぐ暖くなるもんだよ」といいましたが、かあいい坊やの手に霜焼ができてはかわいそうだから、夜になったら、町まで行って、坊やのお手々にあうような毛糸の手袋を買ってやろうと思いました。
Lát sau, cáo con về hang, nói: “Mẹ ơi, tay con lạnh quá, tay con buốt cóng cả rồi,” rồi chìa hai bàn tay ướt sũng đã đỏ ửng màu hoa mẫu đơn ra trước mặt mẹ. Cáo mẹ hà hơi “hà—” vào đôi tay ấy, lấy bàn tay ấm áp của mình bọc nhẹ lấy tay con, dỗ dành: “Sắp ấm ngay thôi, nghịch tuyết xong thì tay ấm lại ngay ấy mà.” Nhưng nghĩ đến đôi tay bé bỏng đáng yêu của con mà bị cước thì tội quá, nên cáo mẹ định bụng tối đến sẽ ra phố mua cho con một đôi găng tay len vừa với tay nó.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 洞穴 | ほらあな | hang động |
| 刺さる | ささる | bị đâm vào, cắm vào |
| 恐る恐る | おそるおそる | rón rén, sợ sệt |
| 反射 | はんしゃ | sự phản chiếu |
| 眩しい | まぶしい | chói mắt |
| 粉雪 | こなゆき | tuyết bột (mịn) |
| 霜焼 | しもやけ | cước (do lạnh) |
| 毛糸 | けいと | sợi len |
| 手袋 | てぶくろ | găng tay |
暗い暗い夜が風呂敷のような影をひろげて野原や森を包みにやって来ましたが、雪はあまり白いので、包んでも包んでも白く浮びあがっていました。
Màn đêm đen thẫm trải chiếc bóng như tấm khăn gói khổng lồ, phủ lên cánh đồng và khu rừng; nhưng tuyết trắng quá, phủ mãi phủ mãi mà vẫn cứ trăng trắng nổi lên.
親子の銀狐は洞穴から出ました。子供の方はお母さんのお腹の下へはいりこんで、そこからまんまるな眼をぱちぱちさせながら、あっちやこっちを見ながら歩いて行きました。
Hai mẹ con cáo bạc ra khỏi hang. Cáo con rúc vào dưới bụng mẹ, từ đó chớp chớp đôi mắt tròn xoe, vừa đi vừa ngó nghiêng hết bên này đến bên kia.
やがて、行手にぽっつりあかりが一つ見え始めました。それを子供の狐が見つけて、「母ちゃん、お星さまは、あんな低いところにも落ちてるのねえ」とききました。「あれはお星さまじゃないのよ」と言って、その時母さん狐の足はすくんでしまいました。「あれは町の灯なんだよ」
Rồi phía trước, một đốm sáng lẻ loi hiện ra. Cáo con trông thấy, hỏi: “Mẹ ơi, ông sao cũng rơi xuống chỗ thấp thế kia hả mẹ?” — “Không phải ông sao đâu con,” cáo mẹ đáp, và ngay lúc ấy chân cáo mẹ bủn rủn khuỵu lại. “Đó là đèn của phố đấy.”
その町の灯を見た時、母さん狐は、ある時町へお友達と出かけて行って、とんだめにあったことを思出しました。およしなさいっていうのもきかないで、お友達の狐が、或る家の家鴨を盗もうとしたので、お百姓に見つかって、さんざ追いまくられて、命からがら逃げたことでした。
Nhìn ánh đèn phố, cáo mẹ nhớ lại một lần cùng bạn ra phố và gặp chuyện tày đình. Can mãi cũng không nghe, cô bạn cáo cứ định trộm con vịt nhà người ta, bị bác nông dân bắt gặp, hai đứa bị rượt đuổi tơi bời, chạy thoát thân trong đường tơ kẽ tóc.
「母ちゃん何してんの、早く行こうよ」と子供の狐がお腹の下から言うのでしたが、母さん狐はどうしても足がすすまないのでした。そこで、しかたがないので、坊やだけを一人で町まで行かせることになりました。
“Mẹ làm gì thế, đi nhanh lên mẹ,” cáo con giục từ dưới bụng mẹ, nhưng chân cáo mẹ nhất định không chịu bước. Thế là chẳng còn cách nào khác, đành để mình cậu con đi vào phố một mình.
「坊やお手々を片方お出し」とお母さん狐がいいました。その手を、母さん狐はしばらく握っている間に、可愛いい人間の子供の手にしてしまいました。坊やの狐はその手をひろげたり握ったり、抓って見たり、嗅いで見たりしました。
“Con chìa một bên tay ra nào,” cáo mẹ bảo. Cáo mẹ nắm bàn tay ấy một lúc, và nó biến thành một bàn tay trẻ con loài người xinh xắn. Cáo con xòe ra nắm vào, thử véo véo, thử ngửi ngửi bàn tay mới.
「何だか変だな母ちゃん、これなあに?」と言って、雪あかりに、またその、人間の手に変えられてしまった自分の手をしげしげと見つめました。
“Lạ lạ thế nào ấy mẹ ơi, cái gì thế này?” — nó nói, rồi dưới ánh tuyết, lại chăm chú ngắm nghía bàn tay của mình đã bị biến thành tay người.
「それは人間の手よ。いいかい坊や、町へ行ったらね、たくさん人間の家があるからね、まず表に円いシャッポの看板のかかっている家を探すんだよ。それが見つかったらね、トントンと戸を叩いて、今晩はって言うんだよ。そうするとね、中から人間が、すこうし戸をあけるからね、その戸の隙間から、こっちの手、ほらこの人間の手をさし入れてね、この手にちょうどいい手袋頂戴って言うんだよ、わかったね、決して、こっちのお手々を出しちゃ駄目よ」と母さん狐は言いきかせました。
“Đó là tay người đấy. Nghe mẹ dặn nhé: vào phố sẽ thấy rất nhiều nhà của loài người, con hãy tìm ngôi nhà treo tấm biển hình chiếc mũ tròn trước cửa. Tìm thấy rồi thì gõ cửa cộc cộc, nói ‘Xin chào buổi tối’. Người ta sẽ hé cửa một chút, con luồn bàn tay này — bàn tay người này này — qua khe cửa, rồi nói ‘Cho cháu đôi găng tay vừa với bàn tay này ạ’. Nhớ chưa? Tuyệt đối không được chìa bàn tay bên kia ra đâu đấy,” cáo mẹ căn dặn.
「どうして?」と坊やの狐はききかえしました。「人間はね、相手が狐だと解ると、手袋を売ってくれないんだよ、それどころか、掴まえて檻の中へ入れちゃうんだよ、人間ってほんとに恐いものなんだよ」「ふーん」
“Tại sao ạ?” cáo con hỏi lại. “Vì loài người ấy mà, hễ biết đối phương là cáo thì sẽ không bán găng tay đâu. Chẳng những thế còn tóm lấy nhốt vào cũi nữa. Loài người đáng sợ lắm con ạ.” — “Hừm…”
「決して、こっちの手を出しちゃいけないよ、こっちの方、ほら人間の手の方をさしだすんだよ」と言って、母さんの狐は、持って来た二つの白銅貨を、人間の手の方へ握らせてやりました。
“Tuyệt đối không được chìa tay bên này ra nhé. Bên này cơ — bàn tay người này cơ mà,” cáo mẹ dặn đi dặn lại, rồi đặt hai đồng xu bạc trắng mang theo vào bàn tay người của con, bắt nắm chặt.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 足がすくむ | あしがすくむ | chân bủn rủn (vì sợ) |
| 命からがら | いのちからがら | thoát thân trong gang tấc |
| 看板 | かんばん | biển hiệu |
| 隙間 | すきま | khe hở |
| 決して〜ない | けっして | tuyệt đối không ~ (ngữ pháp N3) |
| 掴まえる | つかまえる | tóm, bắt lấy |
| 檻 | おり | cái cũi, chuồng |
| 白銅貨 | はくどうか | đồng xu bạc trắng |
| 言いきかせる | いいきかせる | căn dặn kỹ |
子供の狐は、町の灯を目あてに、雪あかりの野原をよちよちやって行きました。始めのうちは一つきりだった灯が二つになり三つになり、はては十にもふえました。狐の子供はそれを見て、灯には、星と同じように、赤いのや黄いのや青いのがあるんだなと思いました。やがて町にはいりましたが通りの家々はもうみんな戸を閉めてしまって、高い窓から暖かそうな光が、道の雪の上に落ちているばかりでした。
Cáo con nhắm hướng ánh đèn phố, lũn cũn băng qua cánh đồng sáng mờ ánh tuyết. Ban đầu chỉ có một đốm đèn, rồi thành hai, thành ba, cuối cùng tăng lên cả chục đốm. Cáo con nhìn và nghĩ: hóa ra đèn cũng giống sao, có cái đỏ, cái vàng, cái xanh. Rồi nó vào đến phố, nhưng nhà cửa hai bên đường đều đã đóng cửa cả, chỉ còn thứ ánh sáng ấm áp từ những ô cửa sổ trên cao rớt xuống mặt tuyết trên đường.
けれど表の看板の上には大てい小さな電燈がともっていましたので、狐の子は、それを見ながら、帽子屋を探して行きました。自転車の看板や、眼鏡の看板やその他いろんな看板が、あるものは、新しいペンキで画かれ、或るものは、古い壁のようにはげていましたが、町に始めて出て来た子狐にはそれらのものがいったい何であるか分らないのでした。
Nhưng phía trên các biển hiệu ngoài cửa thường có thắp một bóng đèn nhỏ, nên cáo con vừa nhìn biển vừa đi tìm tiệm mũ. Biển xe đạp, biển mắt kính, và bao nhiêu biển hiệu khác — cái thì mới sơn bóng loáng, cái thì tróc lở như bức tường cũ — nhưng với chú cáo con lần đầu ra phố, nó chẳng hiểu những thứ đó rốt cuộc là gì.
とうとう帽子屋がみつかりました。お母さんが道々よく教えてくれた、黒い大きなシルクハットの帽子の看板が、青い電燈に照されてかかっていました。
Cuối cùng nó cũng tìm thấy tiệm mũ. Tấm biển hình chiếc mũ chóp cao đen to đúng như mẹ dặn kỹ suốt dọc đường, treo dưới ánh đèn xanh.
子狐は教えられた通り、トントンと戸を叩きました。「今晩は」すると、中では何かことこと音がしていましたがやがて、戸が一寸ほどゴロリとあいて、光の帯が道の白い雪の上に長く伸びました。
Cáo con làm đúng như lời dặn, gõ cửa cộc cộc. “Xin chào buổi tối.” Bên trong có tiếng lạch cạch, rồi cánh cửa hé mở chừng một tấc, một dải ánh sáng đổ dài trên mặt tuyết trắng ngoài đường.
子狐はその光がまばゆかったので、めんくらって、まちがった方の手を、――お母さまが出しちゃいけないと言ってよく聞かせた方の手をすきまからさしこんでしまいました。「このお手々にちょうどいい手袋下さい」
Ánh sáng chói quá làm cáo con quáng mắt, luống cuống chìa nhầm tay — đúng cái bàn tay mẹ đã dặn đi dặn lại là không được chìa ra — luồn qua khe cửa. “Cho cháu đôi găng tay vừa với bàn tay này ạ.”
すると帽子屋さんは、おやおやと思いました。狐の手です。狐の手が手袋をくれと言うのです。これはきっと木の葉で買いに来たんだなと思いました。そこで、「先にお金を下さい」と言いました。子狐はすなおに、握って来た白銅貨を二つ帽子屋さんに渡しました。帽子屋さんはそれを人差指のさきにのっけて、カチ合せて見ると、チンチンとよい音がしましたので、これは木の葉じゃない、ほんとのお金だと思いましたので、棚から子供用の毛糸の手袋をとり出して来て子狐の手に持たせてやりました。子狐は、お礼を言ってまた、もと来た道を帰り始めました。
Ông chủ tiệm mũ nhìn mà nghĩ: ơ kìa. Tay cáo. Một bàn tay cáo đang xin mua găng. Chắc chắn nó định lấy lá cây giả làm tiền để mua đây, ông nghĩ vậy. Thế là ông nói: “Đưa tiền trước đã.” Cáo con ngoan ngoãn đưa hai đồng xu bạc nắm trong tay cho ông. Ông chủ đặt chúng lên đầu ngón trỏ, gõ vào nhau nghe “keng keng” thanh và ròn, biết là không phải lá cây mà là tiền thật, bèn lấy từ trên kệ xuống một đôi găng tay len trẻ em, đặt vào tay cáo con. Cáo con cảm ơn rồi men theo đường cũ quay về.
「お母さんは、人間は恐ろしいものだって仰有ったがちっとも恐ろしくないや。だって僕の手を見てもどうもしなかったもの」と思いました。けれど子狐はいったい人間なんてどんなものか見たいと思いました。
“Mẹ bảo loài người đáng sợ lắm, mà có đáng sợ tí nào đâu. Người ta nhìn thấy tay mình mà có làm gì đâu,” nó nghĩ. Nhưng rồi cáo con lại tò mò muốn xem con người rốt cuộc trông như thế nào.
ある窓の下を通りかかると、人間の声がしていました。何というやさしい、何という美しい、何と言うおっとりした声なんでしょう。
Khi đi ngang dưới một ô cửa sổ, nó nghe thấy tiếng người. Ôi, giọng nói gì mà dịu dàng đến thế, đẹp đến thế, êm ái đến thế.
「ねむれ ねむれ
母の胸に、
ねむれ ねむれ
母の手に――」
“Ngủ đi, ngủ đi
trong lòng mẹ đây,
ngủ đi, ngủ đi
trong tay mẹ đây—”
子狐はその唄声は、きっと人間のお母さんの声にちがいないと思いました。だって、子狐が眠る時にも、やっぱり母さん狐は、あんなやさしい声でゆすぶってくれるからです。
Cáo con nghĩ tiếng hát ấy chắc chắn là giọng của một người mẹ loài người. Bởi vì mỗi khi cáo con ngủ, mẹ cáo cũng ru nó bằng giọng dịu dàng hệt như thế.
するとこんどは、子供の声がしました。「母ちゃん、こんな寒い夜は、森の子狐は寒い寒いって啼いてるでしょうね」
Rồi lần này là tiếng một đứa trẻ: “Mẹ ơi, đêm lạnh thế này, chắc cáo con trong rừng đang kêu ‘lạnh quá, lạnh quá’ mẹ nhỉ?”
すると母さんの声が、「森の子狐もお母さん狐のお唄をきいて、洞穴の中で眠ろうとしているでしょうね。さあ坊やも早くねんねしなさい。森の子狐と坊やとどっちが早くねんねするか、きっと坊やの方が早くねんねしますよ」
Rồi giọng người mẹ đáp: “Cáo con trong rừng chắc cũng đang nghe mẹ cáo hát ru, sắp thiếp ngủ trong hang rồi đấy. Nào, con của mẹ cũng mau ngủ đi. Thi xem cáo con trong rừng với con ai ngủ trước nào — chắc chắn là con ngủ trước cho xem.”
それをきくと子狐は急にお母さんが恋しくなって、お母さん狐の待っている方へ跳んで行きました。
Nghe vậy, cáo con bỗng nhớ mẹ da diết, ba chân bốn cẳng phóng về phía mẹ đang đợi.
お母さん狐は、心配しながら、坊やの狐の帰って来るのを、今か今かとふるえながら待っていましたので、坊やが来ると、暖い胸に抱きしめて泣きたいほどよろこびました。
Cáo mẹ thì đang lo lắng, run rẩy ngóng con về từng phút từng giây, nên khi cậu con xuất hiện, cáo mẹ ôm chặt con vào lồng ngực ấm áp, mừng đến muốn khóc.
二匹の狐は森の方へ帰って行きました。月が出たので、狐の毛なみが銀色に光り、その足あとには、コバルトの影がたまりました。
Hai mẹ con cáo quay về phía khu rừng. Trăng đã lên, bộ lông cáo ánh lên màu bạc, và trong những vết chân chúng để lại, đọng những bóng xanh cô-ban.
「母ちゃん、人間ってちっとも恐かないや」「どうして?」「坊、間違えてほんとうのお手々出しちゃったの。でも帽子屋さん、掴まえやしなかったもの。ちゃんとこんないい暖い手袋くれたもの」と言って手袋のはまった両手をパンパンやって見せました。お母さん狐は、「まあ!」とあきれましたが、「ほんとうに人間はいいものかしら。ほんとうに人間はいいものかしら」とつぶやきました。
“Mẹ ơi, loài người chẳng đáng sợ tí nào.” — “Sao thế?” — “Con lỡ chìa nhầm bàn tay thật ra. Thế mà ông tiệm mũ có bắt con đâu. Còn cho con đôi găng tay ấm ơi là ấm thế này này,” nó nói rồi vỗ vỗ hai bàn tay đeo găng vào nhau khoe mẹ. Cáo mẹ sửng sốt “Trời ơi!”, rồi lẩm bẩm: “Chẳng lẽ loài người tốt thật sao? Chẳng lẽ loài người tốt thật sao?”
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 目あて | めあて | đích nhắm, mục tiêu |
| 帽子屋 | ぼうしや | tiệm mũ |
| 人差指 | ひとさしゆび | ngón trỏ |
| すなおに | 素直に | ngoan ngoãn, thật thà |
| 仰有る | おっしゃる | nói (kính ngữ của 言う) |
| 恋しい | こいしい | nhớ nhung da diết |
| 抱きしめる | だきしめる | ôm chặt |
| あきれる | — | sửng sốt, ngán ngẩm |
| つぶやく | — | lẩm bẩm, thì thầm |
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「新美南吉童話集」岩波文庫、岩波書店、1996年。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.
📚 Bạn thích cách đọc này? Đây là 1 trong bộ 11 truyện ngắn kinh điển Nhật Bản song ngữ (Niimi Nankichi, Miyazawa Kenji, Akutagawa, Dazai — xếp theo trình độ N4 → N2) mà mình đã biên soạn trọn bộ. Bài tiếp theo sẽ đăng dần trên blog; bạn muốn nhận trọn bộ sớm hoặc góp ý thì để lại bình luận nhé.
Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.


Gửi phản hồi