Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.
新美南吉 (Niimi Nankichi) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng
一
これは、私が小さいときに、村の茂平というおじいさんからきいたお話です。
Đây là câu chuyện tôi được nghe cụ Mohei trong làng kể lại, hồi tôi còn nhỏ.
むかしは、私たちの村のちかくの、中山というところに小さなお城があって、中山さまというおとのさまが、おられたそうです。
Nghe nói ngày xưa, ở gần làng chúng tôi có một tòa thành nhỏ tại nơi gọi là Nakayama, và một vị lãnh chúa tên là ngài Nakayama sống ở đó.
その中山から、少しはなれた山の中に、「ごん狐」という狐がいました。ごんは、一人ぼっちの小狐で、しだの一ぱいしげった森の中に穴をほって住んでいました。そして、夜でも昼でも、あたりの村へ出てきて、いたずらばかりしました。はたけへ入って芋をほりちらしたり、菜種がらの、ほしてあるのへ火をつけたり、百姓家の裏手につるしてあるとんがらしをむしりとって、いったり、いろんなことをしました。
Trong ngọn núi cách Nakayama một quãng, có một con cáo tên là “cáo Gon”. Gon là một chú cáo con côi cút, đào hang sống giữa khu rừng rậm rạp toàn dương xỉ. Rồi bất kể ngày đêm, nó mò ra các làng xung quanh, chuyên đi nghịch phá: khi thì chui vào ruộng bới tung khoai, khi thì châm lửa đốt đống rơm cải dầu đang phơi, khi thì vặt trộm ớt treo sau nhà nông dân mang đi — đủ trò cả.
或秋のことでした。二、三日雨がふりつづいたその間、ごんは、外へも出られなくて穴の中にしゃがんでいました。
Chuyện xảy ra vào một mùa thu nọ. Suốt hai ba ngày mưa rả rích, Gon không ra ngoài được, đành ngồi thu lu trong hang.
雨があがると、ごんは、ほっとして穴からはい出ました。空はからっと晴れていて、百舌鳥の声がきんきん、ひびいていました。
Mưa vừa tạnh, Gon thở phào bò ra khỏi hang. Bầu trời quang đãng, tiếng chim bách thanh lảnh lót vang vọng khắp nơi.
ごんは、村の小川の堤まで出て来ました。あたりの、すすきの穂には、まだ雨のしずくが光っていました。川は、いつもは水が少いのですが、三日もの雨で、水が、どっとましていました。ただのときは水につかることのない、川べりのすすきや、萩の株が、黄いろくにごった水に横だおしになって、もまれています。ごんは川下の方へと、ぬかるみみちを歩いていきました。
Gon ra tới bờ đê con suối của làng. Trên những bông cỏ lau xung quanh, giọt mưa vẫn còn lấp lánh. Con suối thường ngày ít nước, nhưng sau ba ngày mưa, nước dâng lên cuồn cuộn. Những bụi lau, bụi hồ chi ven bờ ngày thường chẳng bao giờ ngập nước, giờ ngã rạp trong dòng nước đục vàng, bị sóng vùi dập. Gon men theo con đường lầy lội đi về phía hạ lưu.
ふと見ると、川の中に人がいて、何かやっています。ごんは、見つからないように、そうっと草の深いところへ歩きよって、そこからじっとのぞいてみました。
Chợt nhìn, thấy có người đang làm gì đó giữa suối. Gon rón rén lại gần chỗ cỏ rậm để khỏi bị phát hiện, rồi từ đó nấp nhìn chằm chằm.
「兵十だな」と、ごんは思いました。兵十はぼろぼろの黒いきものをまくし上げて、腰のところまで水にひたりながら、魚をとる、はりきりという、網をゆすぶっていました。はちまきをした顔の横っちょうに、まるい萩の葉が一まい、大きな黒子みたいにへばりついていました。
“Hyōjū đây mà,” Gon nghĩ. Hyōjū vén chiếc áo đen rách bươm, ngâm mình dưới nước tới thắt lưng, đang lắc lắc chiếc lưới bắt cá gọi là harikiri. Trên khuôn mặt quấn khăn, một chiếc lá hồ chi tròn dán chặt bên má như một nốt ruồi đen to tướng.
しばらくすると、兵十は、はりきり網の一ばんうしろの、袋のようになったところを、水の中からもちあげました。その中には、芝の根や、草の葉や、くさった木ぎれなどが、ごちゃごちゃはいっていましたが、でもところどころ、白いものがきらきら光っています。それは、ふというなぎの腹や、大きなきすの腹でした。兵十は、びくの中へ、そのうなぎやきすを、ごみと一しょにぶちこみました。そして、また、袋の口をしばって、水の中へ入れました。
Một lát sau, Hyōjū nhấc phần cuối cùng của tấm lưới — chỗ phình ra như cái túi — lên khỏi mặt nước. Bên trong lẫn lộn rễ cỏ, lá cây, mẩu gỗ mục, nhưng đây đó lại có những thứ trăng trắng lấp lánh: đó là bụng con lươn béo và bụng những con cá kisu to. Hyōjū ném cả lươn lẫn cá cùng đống rác vào giỏ tre, rồi buộc miệng túi lưới lại, thả xuống nước.
兵十はそれから、びくをもって川から上りびくを土手においといて、何をさがしにか、川上の方へかけていきました。
Rồi Hyōjū xách giỏ lên bờ, để giỏ trên đê, chạy ngược lên phía thượng nguồn tìm kiếm gì đó.
兵十がいなくなると、ごんは、ぴょいと草の中からとび出して、びくのそばへかけつけました。ちょいと、いたずらがしたくなったのです。ごんはびくの中の魚をつかみ出しては、はりきり網のかかっているところより下手の川の中を目がけて、ぽんぽんなげこみました。どの魚も、「とぼん」と音を立てながら、にごった水の中へもぐりこみました。
Hyōjū vừa đi khỏi, Gon phóc ra khỏi bụi cỏ, chạy tới bên chiếc giỏ. Tự dưng nó lại nổi hứng nghịch ngợm. Gon bốc từng con cá trong giỏ, nhắm khúc suối phía dưới chỗ giăng lưới mà ném tõm tõm. Con cá nào cũng kêu “tõm” một tiếng rồi lặn mất vào dòng nước đục.
一ばんしまいに、太いうなぎをつかみにかかりましたが、何しろぬるぬるとすべりぬけるので、手ではつかめません。ごんはじれったくなって、頭をびくの中につッこんで、うなぎの頭を口にくわえました。うなぎは、キュッと言ってごんの首へまきつきました。そのとたんに兵十が、向うから、「うわアぬすと狐め」と、どなりたてました。ごんは、びっくりしてとびあがりました。うなぎをふりすててにげようとしましたが、うなぎは、ごんの首にまきついたままはなれません。ごんはそのまま横っとびにとび出して一しょうけんめいに、にげていきました。
Cuối cùng, nó định tóm con lươn to, nhưng lươn trơn nhẫy cứ tuột khỏi tay, không tài nào bắt được. Gon sốt ruột, thọc đầu vào giỏ, ngoạm đầu con lươn vào miệng. Con lươn kêu “kít” một tiếng rồi quấn chặt lấy cổ Gon. Đúng lúc ấy, từ phía bên kia, Hyōjū thét lên: “A! Con cáo ăn trộm kia!” Gon giật mình nhảy dựng. Nó định vứt con lươn để chạy, nhưng lươn quấn quanh cổ không chịu rời. Gon cứ thế phóng ngang, cắm đầu chạy thục mạng.
ほら穴の近くの、はんの木の下でふりかえって見ましたが、兵十は追っかけては来ませんでした。
Đến dưới gốc cây trăn gần hang, nó ngoái lại nhìn, nhưng Hyōjū không đuổi theo.
ごんは、ほっとして、うなぎの頭をかみくだき、やっとはずして穴のそとの、草の葉の上にのせておきました。
Gon thở phào, cắn nát đầu lươn, gỡ mãi mới ra, rồi đặt con lươn lên đám lá cỏ ngoài cửa hang.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 一人ぼっち | ひとりぼっち | côi cút, trơ trọi một mình |
| いたずら | — | trò nghịch ngợm, phá phách |
| 百姓 | ひゃくしょう | nông dân |
| しゃがむ | — | ngồi xổm |
| 堤 | つつみ | bờ đê |
| にごる | — | (nước) đục |
| のぞく | — | nhòm, ngó trộm |
| うなぎ | — | con lươn/cá chình |
| 盗人 | ぬすと・ぬすびと | kẻ trộm |
| 一生懸命 | いっしょうけんめい | hết sức mình, thục mạng |
二
十日ほどたって、ごんが、弥助というお百姓の家の裏を通りかかりますと、そこの、いちじくの木のかげで、弥助の家内が、おはぐろをつけていました。鍛冶屋の新兵衛の家のうらを通ると、新兵衛の家内が髪をすいていました。ごんは、「ふふん、村に何かあるんだな」と、思いました。
Chừng mười hôm sau, khi Gon đi ngang sau nhà bác nông dân Yasuke, thấy dưới bóng cây sung, vợ Yasuke đang nhuộm răng đen. Đi qua sau nhà bác thợ rèn Shinbee thì vợ Shinbee đang chải tóc. Gon nghĩ: “Hừm, trong làng chắc có chuyện gì đây.”
「何だろう、秋祭かな。祭なら、太鼓や笛の音がしそうなものだ。それに第一、お宮にのぼりが立つはずだが」
“Chuyện gì nhỉ, hội mùa thu chăng? Nếu là hội thì phải nghe tiếng trống tiếng sáo chứ. Mà trước hết, sân đền phải dựng cờ phướn mới phải.”
こんなことを考えながらやって来ますと、いつの間にか、表に赤い井戸のある、兵十の家の前へ来ました。その小さな、こわれかけた家の中には、大勢の人があつまっていました。よそいきの着物を着て、腰に手拭をさげたりした女たちが、表のかまどで火をたいています。大きな鍋の中では、何かぐずぐず煮えていました。
Vừa nghĩ vẩn vơ vừa đi, lúc nào không hay nó đã tới trước nhà Hyōjū — căn nhà có cái giếng đỏ ngoài sân. Trong căn nhà nhỏ xiêu vẹo ấy, người tụ tập đông nghịt. Mấy người đàn bà mặc áo đẹp, giắt khăn tay bên hông, đang nhóm lửa nơi bếp ngoài sân. Trong chiếc nồi lớn, thứ gì đó sôi lục bục.
「ああ、葬式だ」と、ごんは思いました。「兵十の家のだれが死んだんだろう」
“À, đám tang,” Gon nghĩ. “Nhà Hyōjū có ai chết nhỉ?”
お午がすぎると、ごんは、村の墓地へ行って、六地蔵さんのかげにかくれていました。いいお天気で、遠く向うには、お城の屋根瓦が光っています。墓地には、ひがん花が、赤い布のようにさきつづいていました。と、村の方から、カーン、カーン、と、鐘が鳴って来ました。葬式の出る合図です。
Quá trưa, Gon ra nghĩa địa của làng, nấp sau tượng sáu vị Địa Tạng. Trời đẹp, xa xa mái ngói tòa thành sáng lấp lánh. Trong nghĩa địa, hoa bỉ ngạn nở đỏ liền một dải như tấm vải đỏ trải dài. Rồi từ phía làng, tiếng chuông “coong, coong” vọng lại — hiệu lệnh đám tang xuất phát.
やがて、白い着物を着た葬列のものたちがやって来るのがちらちら見えはじめました。話声も近くなりました。葬列は墓地へはいって来ました。人々が通ったあとには、ひがん花が、ふみおられていました。
Chẳng mấy chốc đã thấy thấp thoáng đoàn đưa tang áo trắng đi tới. Tiếng trò chuyện mỗi lúc một gần. Đoàn tang tiến vào nghĩa địa. Nơi đoàn người đi qua, hoa bỉ ngạn bị giẫm gãy rạp.
ごんはのびあがって見ました。兵十が、白いかみしもをつけて、位牌をささげています。いつもは、赤いさつま芋みたいな元気のいい顔が、きょうは何だかしおれていました。
Gon nhổm người lên nhìn. Hyōjū mặc lễ phục trắng, hai tay nâng bài vị. Khuôn mặt thường ngày hồng hào khỏe khoắn như củ khoai lang đỏ, hôm nay ủ rũ hẳn.
「ははん、死んだのは兵十のおっ母だ」ごんはそう思いながら、頭をひっこめました。
“À ra thế, người chết là mẹ của Hyōjū.” Gon vừa nghĩ vừa thụt đầu xuống.
その晩、ごんは、穴の中で考えました。「兵十のおっ母は、床についていて、うなぎが食べたいと言ったにちがいない。それで兵十がはりきり網をもち出したんだ。ところが、わしがいたずらをして、うなぎをとって来てしまった。だから兵十は、おっ母にうなぎを食べさせることができなかった。そのままおっ母は、死んじゃったにちがいない。ああ、うなぎが食べたい、うなぎが食べたいとおもいながら、死んだんだろう。ちょッ、あんないたずらをしなけりゃよかった。」
Tối hôm ấy, trong hang, Gon ngẫm nghĩ: “Mẹ Hyōjū nằm liệt giường, chắc chắn đã nói muốn ăn lươn. Vì thế Hyōjū mới mang lưới ra suối. Vậy mà mình nghịch dại, cướp mất con lươn. Nên Hyōjū không cho mẹ ăn được lươn. Rồi cứ thế bà cụ mất. Chắc bà vừa nhắm mắt vừa ao ước: ôi thèm ăn lươn quá, thèm ăn lươn quá. Chậc, biết vậy mình đừng bày trò nghịch dại ấy.”
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 葬式 | そうしき | đám tang |
| 墓地 | ぼち | nghĩa địa |
| ひがん花 | ひがんばな | hoa bỉ ngạn |
| 合図 | あいず | tín hiệu, hiệu lệnh |
| 位牌 | いはい | bài vị |
| 床につく | とこにつく | nằm liệt giường (ốm) |
| 〜にちがいない | — | chắc chắn là ~ (ngữ pháp N3) |
| 〜しなけりゃよかった | — | biết thế đã không làm ~ (hối hận) |
三
兵十が、赤い井戸のところで、麦をといでいました。兵十は今まで、おっ母と二人きりで、貧しいくらしをしていたもので、おっ母が死んでしまっては、もう一人ぼっちでした。
Hyōjū đang vo lúa mạch bên cái giếng đỏ. Từ trước tới giờ anh sống nghèo khó, chỉ có hai mẹ con; mẹ mất rồi thì còn lại trơ trọi một mình.
「おれと同じ一人ぼっちの兵十か」こちらの物置の後から見ていたごんは、そう思いました。
“Hyōjū cũng côi cút một mình như ta sao.” Gon đứng nhìn từ sau nhà kho bên này, nghĩ vậy.
ごんは物置のそばをはなれて、向うへいきかけますと、どこかで、いわしを売る声がします。「いわしのやすうりだアい。いきのいいいわしだアい」
Gon rời khỏi nhà kho, vừa định đi sang phía bên kia thì nghe đâu đó có tiếng rao bán cá mòi: “Cá mòi rẻ đơ~i! Cá mòi tươi roi rói đơ~i!”
ごんは、その、いせいのいい声のする方へ走っていきました。と、弥助のおかみさんが、裏戸口から、「いわしをおくれ。」と言いました。いわし売は、いわしのかごをつんだ車を、道ばたにおいて、ぴかぴか光るいわしを両手でつかんで、弥助の家の中へもってはいりました。ごんはそのすきまに、かごの中から、五、六ぴきのいわしをつかみ出して、もと来た方へかけだしました。そして、兵十の家の裏口から、家の中へいわしを投げこんで、穴へ向ってかけもどりました。途中の坂の上でふりかえって見ますと、兵十がまだ、井戸のところで麦をといでいるのが小さく見えました。
Gon chạy về phía tiếng rao rôm rả ấy. Vừa lúc vợ Yasuke gọi từ cửa sau: “Bán tôi ít cá mòi.” Người bán cá đỗ chiếc xe chở sọt cá bên vệ đường, hai tay bốc mớ cá mòi lấp lánh mang vào nhà Yasuke. Nhân lúc ấy, Gon thò vào sọt bốc năm sáu con cá mòi rồi chạy ngược đường cũ. Nó ném cá mòi qua cửa sau vào trong nhà Hyōjū, rồi chạy về hang. Trên con dốc giữa đường, nó ngoái lại nhìn: xa xa vẫn thấy Hyōjū nhỏ xíu đang vo lúa mạch bên giếng.
ごんは、うなぎのつぐないに、まず一つ、いいことをしたと思いました。
Gon nghĩ: để chuộc lỗi vụ con lươn, trước hết mình đã làm được một việc tốt.
つぎの日には、ごんは山で栗をどっさりひろって、それをかかえて、兵十の家へいきました。裏口からのぞいて見ますと、兵十は、午飯をたべかけて、茶椀をもったまま、ぼんやりと考えこんでいました。へんなことには兵十の頬ぺたに、かすり傷がついています。どうしたんだろうと、ごんが思っていますと、兵十がひとりごとをいいました。「一たいだれが、いわしなんかをおれの家へほうりこんでいったんだろう。おかげでおれは、盗人と思われて、いわし屋のやつに、ひどい目にあわされた」と、ぶつぶつ言っています。
Hôm sau, Gon nhặt cả ôm hạt dẻ trên núi, ôm đến nhà Hyōjū. Ngó qua cửa sau, thấy Hyōjū đang ăn dở bữa trưa, tay cầm bát mà ngồi thẫn thờ suy nghĩ. Lạ là trên má anh có vết xước. Gon đang thắc mắc thì Hyōjū lẩm bẩm một mình: “Rốt cuộc đứa nào ném cá mòi vào nhà mình chứ. Tại thế mà mình bị coi là thằng ăn trộm, bị lão hàng cá cho một trận nên thân.”
ごんは、これはしまったと思いました。かわいそうに兵十は、いわし屋にぶんなぐられて、あんな傷までつけられたのか。ごんはこうおもいながら、そっと物置の方へまわってその入口に、栗をおいてかえりました。
Gon nghĩ: thôi hỏng rồi. Tội nghiệp Hyōjū, bị lão hàng cá đánh cho đến mang cả vết thương thế kia. Vừa nghĩ vậy, Gon lặng lẽ vòng ra phía nhà kho, đặt hạt dẻ ở cửa rồi ra về.
つぎの日も、そのつぎの日もごんは、栗をひろっては、兵十の家へもって来てやりました。そのつぎの日には、栗ばかりでなく、まつたけも二、三ぼんもっていきました。
Hôm sau, rồi hôm sau nữa, Gon đều nhặt hạt dẻ mang đến nhà Hyōjū. Hôm sau nữa, ngoài hạt dẻ nó còn mang thêm hai ba cây nấm matsutake.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 物置 | ものおき | nhà kho |
| いわし | — | cá mòi |
| つぐない | 償い | sự chuộc lỗi, đền bù |
| 栗 | くり | hạt dẻ |
| ひとりごと | 独り言 | lời nói một mình, lẩm bẩm |
| ひどい目にあう | ひどいめにあう | bị một trận nên thân, gặp chuyện khốn khổ |
| しまった | — | “thôi chết/hỏng rồi!” |
四
月のいい晩でした。ごんは、ぶらぶらあそびに出かけました。中山さまのお城の下を通ってすこしいくと、細い道の向うから、だれか来るようです。話声が聞えます。チンチロリン、チンチロリンと松虫が鳴いています。
Một đêm trăng đẹp. Gon thong dong ra ngoài dạo chơi. Đi qua chân thành ngài Nakayama một quãng, hình như có ai đang đi tới từ phía con đường nhỏ. Có tiếng trò chuyện. Dế chuông kêu rinh rích, rinh rích.
ごんは、道の片がわにかくれて、じっとしていました。話声はだんだん近くなりました。それは、兵十と加助というお百姓でした。
Gon nấp bên vệ đường, im thin thít. Tiếng nói chuyện mỗi lúc một gần. Đó là Hyōjū và một bác nông dân tên Kasuke.
「そうそう、なあ加助」と、兵十がいいました。
「ああん?」
「おれあ、このごろ、とてもふしぎなことがあるんだ」
「何が?」
「おっ母が死んでからは、だれだか知らんが、おれに栗やまつたけなんかを、まいにちまいにちくれるんだよ」
「ふうん、だれが?」
「それがわからんのだよ。おれの知らんうちに、おいていくんだ」
“À phải, này Kasuke,” Hyōjū nói.
“Hả?”
“Dạo này tao gặp chuyện lạ lắm.”
“Chuyện gì?”
“Từ hồi mẹ tao mất, chẳng biết ai mà ngày nào cũng cho tao hạt dẻ với cả nấm matsutake.”
“Hừm, ai thế?”
“Chịu, không biết. Cứ lúc tao không để ý là để đấy rồi đi.”
ごんは、ふたりのあとをつけていきました。
「ほんとかい?」
「ほんとだとも。うそと思うなら、あした見に来いよ。その栗を見せてやるよ」
「へえ、へんなこともあるもんだなア」
それなり、二人はだまって歩いていきました。
Gon bám theo sau hai người.
“Thật à?”
“Thật chứ. Không tin thì mai đến mà xem, tao cho xem chỗ hạt dẻ.”
“Chà, đúng là chuyện lạ đời.”
Rồi hai người lặng im bước tiếp.
加助がひょいと、後を見ました。ごんはびくっとして、小さくなってたちどまりました。加助は、ごんには気がつかないで、そのままさっさとあるきました。吉兵衛というお百姓の家まで来ると、二人はそこへはいっていきました。ポンポンポンポンと木魚の音がしています。窓の障子にあかりがさしていて、大きな坊主頭がうつって動いていました。ごんは、「おねんぶつがあるんだな」と思いながら井戸のそばにしゃがんでいました。しばらくすると、また三人ほど、人がつれだって吉兵衛の家へはいっていきました。お経を読む声がきこえて来ました。
Kasuke chợt ngoái đầu lại. Gon giật thót, thu mình đứng sững. Nhưng Kasuke không nhận ra Gon, cứ thế rảo bước. Đến nhà bác nông dân Kichibee, hai người đi vào trong. Tiếng mõ “pốc pốc pốc pốc” vang lên. Cửa giấy sáng ánh đèn, in bóng một cái đầu trọc to đang lay động. Gon nghĩ “đang có buổi niệm Phật đây” rồi ngồi xổm cạnh giếng. Lát sau lại có chừng ba người nữa rủ nhau vào nhà Kichibee. Tiếng tụng kinh vọng ra.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| ふしぎな | 不思議な | kỳ lạ, khó hiểu |
| あとをつける | — | bám theo, theo dõi |
| びくっとする | — | giật thót mình |
| 木魚 | もくぎょ | cái mõ (nhà chùa) |
| 念仏 | ねんぶつ | niệm Phật |
| お経 | おきょう | kinh Phật |
五
ごんは、おねんぶつがすむまで、井戸のそばにしゃがんでいました。兵十と加助は、また一しょにかえっていきます。ごんは、二人の話をきこうと思って、ついていきました。兵十の影法師をふみふみいきました。
Gon ngồi xổm bên giếng đợi đến khi buổi niệm Phật xong. Hyōjū và Kasuke lại cùng nhau ra về. Gon muốn nghe hai người nói chuyện nên đi theo, vừa đi vừa giẫm lên cái bóng của Hyōjū.
お城の前まで来たとき、加助が言い出しました。
「さっきの話は、きっと、そりゃあ、神さまのしわざだぞ」
「えっ?」と、兵十はびっくりして、加助の顔を見ました。
「おれは、あれからずっと考えていたが、どうも、そりゃ、人間じゃない、神さまだ、神さまが、お前がたった一人になったのをあわれに思わっしゃって、いろんなものをめぐんで下さるんだよ」
「そうかなあ」
「そうだとも。だから、まいにち神さまにお礼を言うがいいよ」
「うん」
Khi tới trước tòa thành, Kasuke lên tiếng:
“Cái chuyện lúc nãy ấy, chắc chắn là thần linh làm đấy.”
“Hả?” Hyōjū giật mình nhìn mặt Kasuke.
“Từ nãy tao nghĩ mãi rồi. Cái đó không phải người đâu, là thần đấy. Thần thấy mày trơ trọi một thân một mình nên thương tình, mới ban cho đủ thứ đấy.”
“Thế à…”
“Chứ còn gì nữa. Vậy nên ngày nào mày cũng nên tạ ơn thần linh đi.”
“Ừ.”
ごんは、へえ、こいつはつまらないなと思いました。おれが、栗や松たけを持っていってやるのに、そのおれにはお礼をいわないで、神さまにお礼をいうんじゃア、おれは、引き合わないなあ。
Gon nghĩ: hừ, chán thật đấy. Mình mang hạt dẻ với nấm đến cho, mà chẳng ai cảm ơn mình, lại đi cảm ơn thần linh — thế thì mình thiệt quá còn gì.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 影法師 | かげぼうし | cái bóng (người) |
| しわざ | 仕業 | việc (ai đó) làm, “tác phẩm” của ai |
| あわれに思う | 哀れに思う | thấy thương xót |
| めぐむ | 恵む | ban cho, bố thí |
| 引き合わない | ひきあわない | không bõ, thiệt thòi |
六
そのあくる日もごんは、栗をもって、兵十の家へ出かけました。兵十は物置で縄をなっていました。それでごんは家の裏口から、こっそり中へはいりました。
Hôm sau nữa, Gon lại mang hạt dẻ đến nhà Hyōjū. Hyōjū đang bện thừng trong nhà kho, nên Gon lẻn vào nhà bằng lối cửa sau.
そのとき兵十は、ふと顔をあげました。と狐が家の中へはいったではありませんか。こないだうなぎをぬすみやがったあのごん狐めが、またいたずらをしに来たな。「ようし。」
Đúng lúc ấy, Hyōjū chợt ngẩng mặt lên. Kìa, chẳng phải một con cáo vừa lẻn vào nhà đó sao. Chính con cáo Gon hôm trước ăn trộm lươn, giờ lại mò đến phá đây mà. “Được lắm.”
兵十は立ちあがって、納屋にかけてある火縄銃をとって、火薬をつめました。そして足音をしのばせてちかよって、今戸口を出ようとするごんを、ドンと、うちました。ごんは、ばたりとたおれました。兵十はかけよって来ました。家の中を見ると、土間に栗が、かためておいてあるのが目につきました。
Hyōjū đứng dậy, lấy khẩu súng hỏa mai treo trong kho, nhồi thuốc súng. Rồi anh rón rén từng bước lại gần, nhắm Gon đang lúc vừa định bước ra cửa — “ĐOÀNG” một phát. Gon ngã vật xuống. Hyōjū chạy lại. Nhìn vào trong nhà, anh chợt thấy trên nền đất, hạt dẻ được đặt gọn thành một đống.
「おや」と兵十は、びっくりしてごんに目を落しました。「ごん、お前だったのか。いつも栗をくれたのは」
“Ơ kìa,” Hyōjū sững sờ, cúi nhìn Gon. “Gon… là mày đấy ư? Người vẫn cho tao hạt dẻ bấy lâu nay…”
ごんは、ぐったりと目をつぶったまま、うなずきました。
Gon lả đi, mắt nhắm nghiền, khẽ gật đầu.
兵十は火縄銃をばたりと、とり落しました。青い煙が、まだ筒口から細く出ていました。
Hyōjū buông rơi khẩu súng đánh “cạch”. Làn khói xanh vẫn còn vương ra mỏng mảnh từ đầu nòng súng.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 縄をなう | なわをなう | bện thừng |
| こっそり | — | lén lút, rón rén |
| 火縄銃 | ひなわじゅう | súng hỏa mai |
| 足音をしのばせる | あしおとをしのばせる | rón rén không gây tiếng động |
| ぐったり | — | lả đi, kiệt sức |
| うなずく | — | gật đầu |
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「新美南吉童話集」岩波文庫、岩波書店、1996年。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.
📚 Bạn thích cách đọc này? Đây là 1 trong bộ 11 truyện ngắn kinh điển Nhật Bản song ngữ (Niimi Nankichi, Miyazawa Kenji, Akutagawa, Dazai — xếp theo trình độ N4 → N2) mà mình đã biên soạn trọn bộ. Bài tiếp theo sẽ đăng dần trên blog; bạn muốn nhận trọn bộ sớm hoặc góp ý thì để lại bình luận nhé.
Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.


Gửi phản hồi