ごん狐 — Con cáo Gon

Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.


新美南吉 (Niimi Nankichi) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng

一

これは、私わたしが小ちいさいときに、村むらの茂平もへいというおじいさんからきいたお話はなしです。

Đây là câu chuyện tôi được nghe cụ Mohei trong làng kể lại, hồi tôi còn nhỏ.

むかしは、私わたしたちの村むらのちかくの、中山なかやまというところに小ちいさなお城しろがあって、中山なかやまさまというおとのさまが、おられたそうです。

Nghe nói ngày xưa, ở gần làng chúng tôi có một tòa thành nhỏ tại nơi gọi là Nakayama, và một vị lãnh chúa tên là ngài Nakayama sống ở đó.

その中山なかやまから、少すこしはなれた山やまの中なかに、「ごん狐ぎつね」という狐きつねがいました。ごんは、一人ひとりぼっちの小狐こぎつねで、しだの一いっぱいしげった森もりの中なかに穴あなをほって住すんでいました。そして、夜よるでも昼ひるでも、あたりの村むらへ出でてきて、いたずらばかりしました。はたけへ入はいって芋いもをほりちらしたり、菜種なたねがらの、ほしてあるのへ火ひをつけたり、百姓家ひゃくしょうやの裏手うらてにつるしてあるとんがらしをむしりとって、いったり、いろんなことをしました。

Trong ngọn núi cách Nakayama một quãng, có một con cáo tên là “cáo Gon”. Gon là một chú cáo con côi cút, đào hang sống giữa khu rừng rậm rạp toàn dương xỉ. Rồi bất kể ngày đêm, nó mò ra các làng xung quanh, chuyên đi nghịch phá: khi thì chui vào ruộng bới tung khoai, khi thì châm lửa đốt đống rơm cải dầu đang phơi, khi thì vặt trộm ớt treo sau nhà nông dân mang đi — đủ trò cả.

或ある秋あきのことでした。二に、三日さんにち雨あめがふりつづいたその間あいだ、ごんは、外そとへも出でられなくて穴あなの中なかにしゃがんでいました。

Chuyện xảy ra vào một mùa thu nọ. Suốt hai ba ngày mưa rả rích, Gon không ra ngoài được, đành ngồi thu lu trong hang.

雨あめがあがると、ごんは、ほっとして穴あなからはい出でました。空そらはからっと晴はれていて、百舌鳥もずの声こえがきんきん、ひびいていました。

Mưa vừa tạnh, Gon thở phào bò ra khỏi hang. Bầu trời quang đãng, tiếng chim bách thanh lảnh lót vang vọng khắp nơi.

ごんは、村むらの小川おがわの堤つつみまで出でて来きました。あたりの、すすきの穂ほには、まだ雨あめのしずくが光ひかっていました。川かわは、いつもは水みずが少すくないのですが、三日みっかもの雨あめで、水みずが、どっとましていました。ただのときは水みずにつかることのない、川かわべりのすすきや、萩はぎの株かぶが、黄きいろくにごった水みずに横よこだおしになって、もまれています。ごんは川下かわしもの方ほうへと、ぬかるみみちを歩あるいていきました。

Gon ra tới bờ đê con suối của làng. Trên những bông cỏ lau xung quanh, giọt mưa vẫn còn lấp lánh. Con suối thường ngày ít nước, nhưng sau ba ngày mưa, nước dâng lên cuồn cuộn. Những bụi lau, bụi hồ chi ven bờ ngày thường chẳng bao giờ ngập nước, giờ ngã rạp trong dòng nước đục vàng, bị sóng vùi dập. Gon men theo con đường lầy lội đi về phía hạ lưu.

ふと見みると、川かわの中なかに人ひとがいて、何なにかやっています。ごんは、見みつからないように、そうっと草くさの深ふかいところへ歩あるきよって、そこからじっとのぞいてみました。

Chợt nhìn, thấy có người đang làm gì đó giữa suối. Gon rón rén lại gần chỗ cỏ rậm để khỏi bị phát hiện, rồi từ đó nấp nhìn chằm chằm.

「兵十ひょうじゅうだな」と、ごんは思おもいました。兵十ひょうじゅうはぼろぼろの黒くろいきものをまくし上あげて、腰こしのところまで水みずにひたりながら、魚さかなをとる、はりきりという、網あみをゆすぶっていました。はちまきをした顔かおの横よこっちょうに、まるい萩はぎの葉はが一いちまい、大おおきな黒子ほくろみたいにへばりついていました。

“Hyōjū đây mà,” Gon nghĩ. Hyōjū vén chiếc áo đen rách bươm, ngâm mình dưới nước tới thắt lưng, đang lắc lắc chiếc lưới bắt cá gọi là harikiri. Trên khuôn mặt quấn khăn, một chiếc lá hồ chi tròn dán chặt bên má như một nốt ruồi đen to tướng.

しばらくすると、兵十ひょうじゅうは、はりきり網あみの一いちばんうしろの、袋ふくろのようになったところを、水みずの中なかからもちあげました。その中なかには、芝しばの根ねや、草くさの葉はや、くさった木きぎれなどが、ごちゃごちゃはいっていましたが、でもところどころ、白しろいものがきらきら光ひかっています。それは、ふというなぎの腹はらや、大おおきなきすの腹はらでした。兵十ひょうじゅうは、びくの中なかへ、そのうなぎやきすを、ごみと一いっしょにぶちこみました。そして、また、袋ふくろの口くちをしばって、水みずの中なかへ入いれました。

Một lát sau, Hyōjū nhấc phần cuối cùng của tấm lưới — chỗ phình ra như cái túi — lên khỏi mặt nước. Bên trong lẫn lộn rễ cỏ, lá cây, mẩu gỗ mục, nhưng đây đó lại có những thứ trăng trắng lấp lánh: đó là bụng con lươn béo và bụng những con cá kisu to. Hyōjū ném cả lươn lẫn cá cùng đống rác vào giỏ tre, rồi buộc miệng túi lưới lại, thả xuống nước.

兵十ひょうじゅうはそれから、びくをもって川かわから上あがりびくを土手どてにおいといて、何なにをさがしにか、川上かわかみの方ほうへかけていきました。

Rồi Hyōjū xách giỏ lên bờ, để giỏ trên đê, chạy ngược lên phía thượng nguồn tìm kiếm gì đó.

兵十ひょうじゅうがいなくなると、ごんは、ぴょいと草くさの中なかからとび出だして、びくのそばへかけつけました。ちょいと、いたずらがしたくなったのです。ごんはびくの中なかの魚さかなをつかみ出だしては、はりきり網あみのかかっているところより下手しもての川かわの中なかを目めがけて、ぽんぽんなげこみました。どの魚さかなも、「とぼん」と音おとを立たてながら、にごった水みずの中なかへもぐりこみました。

Hyōjū vừa đi khỏi, Gon phóc ra khỏi bụi cỏ, chạy tới bên chiếc giỏ. Tự dưng nó lại nổi hứng nghịch ngợm. Gon bốc từng con cá trong giỏ, nhắm khúc suối phía dưới chỗ giăng lưới mà ném tõm tõm. Con cá nào cũng kêu “tõm” một tiếng rồi lặn mất vào dòng nước đục.

一いちばんしまいに、太ふというなぎをつかみにかかりましたが、何なにしろぬるぬるとすべりぬけるので、手てではつかめません。ごんはじれったくなって、頭あたまをびくの中なかにつッこんで、うなぎの頭あたまを口くちにくわえました。うなぎは、キュッと言いってごんの首くびへまきつきました。そのとたんに兵十ひょうじゅうが、向むこうから、「うわアぬすと狐ぎつねめ」と、どなりたてました。ごんは、びっくりしてとびあがりました。うなぎをふりすててにげようとしましたが、うなぎは、ごんの首くびにまきついたままはなれません。ごんはそのまま横よこっとびにとび出だして一いっしょうけんめいに、にげていきました。

Cuối cùng, nó định tóm con lươn to, nhưng lươn trơn nhẫy cứ tuột khỏi tay, không tài nào bắt được. Gon sốt ruột, thọc đầu vào giỏ, ngoạm đầu con lươn vào miệng. Con lươn kêu “kít” một tiếng rồi quấn chặt lấy cổ Gon. Đúng lúc ấy, từ phía bên kia, Hyōjū thét lên: “A! Con cáo ăn trộm kia!” Gon giật mình nhảy dựng. Nó định vứt con lươn để chạy, nhưng lươn quấn quanh cổ không chịu rời. Gon cứ thế phóng ngang, cắm đầu chạy thục mạng.

ほら穴あなの近ちかくの、はんの木きの下したでふりかえって見みましたが、兵十ひょうじゅうは追おっかけては来きませんでした。

Đến dưới gốc cây trăn gần hang, nó ngoái lại nhìn, nhưng Hyōjū không đuổi theo.

ごんは、ほっとして、うなぎの頭あたまをかみくだき、やっとはずして穴あなのそとの、草くさの葉はの上うえにのせておきました。

Gon thở phào, cắn nát đầu lươn, gỡ mãi mới ra, rồi đặt con lươn lên đám lá cỏ ngoài cửa hang.

Từ vựng chương 一
Từ Cách đọc Nghĩa
一人ぼっち ひとりぼっち côi cút, trơ trọi một mình
いたずら — trò nghịch ngợm, phá phách
百姓 ひゃくしょう nông dân
しゃがむ — ngồi xổm
堤 つつみ bờ đê
にごる — (nước) đục
のぞく — nhòm, ngó trộm
うなぎ — con lươn/cá chình
盗人 ぬすと・ぬすびと kẻ trộm
一生懸命 いっしょうけんめい hết sức mình, thục mạng

二

十日とおかほどたって、ごんが、弥助やすけというお百姓ひゃくしょうの家いえの裏うらを通とおりかかりますと、そこの、いちじくの木きのかげで、弥助やすけの家内かないが、おはぐろをつけていました。鍛冶屋かじやの新兵衛しんべえの家いえのうらを通とおると、新兵衛しんべえの家内かないが髪かみをすいていました。ごんは、「ふふん、村むらに何なにかあるんだな」と、思おもいました。

Chừng mười hôm sau, khi Gon đi ngang sau nhà bác nông dân Yasuke, thấy dưới bóng cây sung, vợ Yasuke đang nhuộm răng đen. Đi qua sau nhà bác thợ rèn Shinbee thì vợ Shinbee đang chải tóc. Gon nghĩ: “Hừm, trong làng chắc có chuyện gì đây.”

「何なんだろう、秋祭あきまつりかな。祭まつりなら、太鼓たいこや笛ふえの音おとがしそうなものだ。それに第一だいいち、お宮みやにのぼりが立たつはずだが」

“Chuyện gì nhỉ, hội mùa thu chăng? Nếu là hội thì phải nghe tiếng trống tiếng sáo chứ. Mà trước hết, sân đền phải dựng cờ phướn mới phải.”

こんなことを考かんがえながらやって来きますと、いつの間まにか、表おもてに赤あかい井戸いどのある、兵十ひょうじゅうの家いえの前まえへ来きました。その小ちいさな、こわれかけた家いえの中なかには、大勢おおぜいの人ひとがあつまっていました。よそいきの着物きものを着きて、腰こしに手拭てぬぐいをさげたりした女おんなたちが、表おもてのかまどで火ひをたいています。大おおきな鍋なべの中なかでは、何なにかぐずぐず煮にえていました。

Vừa nghĩ vẩn vơ vừa đi, lúc nào không hay nó đã tới trước nhà Hyōjū — căn nhà có cái giếng đỏ ngoài sân. Trong căn nhà nhỏ xiêu vẹo ấy, người tụ tập đông nghịt. Mấy người đàn bà mặc áo đẹp, giắt khăn tay bên hông, đang nhóm lửa nơi bếp ngoài sân. Trong chiếc nồi lớn, thứ gì đó sôi lục bục.

「ああ、葬式そうしきだ」と、ごんは思おもいました。「兵十ひょうじゅうの家いえのだれが死しんだんだろう」

“À, đám tang,” Gon nghĩ. “Nhà Hyōjū có ai chết nhỉ?”

お午ひるがすぎると、ごんは、村むらの墓地ぼちへ行いって、六地蔵ろくじぞうさんのかげにかくれていました。いいお天気てんきで、遠とおく向むこうには、お城しろの屋根瓦やねがわらが光ひかっています。墓地ぼちには、ひがん花ばなが、赤あかい布ぬののようにさきつづいていました。と、村むらの方ほうから、カーン、カーン、と、鐘かねが鳴なって来きました。葬式そうしきの出でる合図あいずです。

Quá trưa, Gon ra nghĩa địa của làng, nấp sau tượng sáu vị Địa Tạng. Trời đẹp, xa xa mái ngói tòa thành sáng lấp lánh. Trong nghĩa địa, hoa bỉ ngạn nở đỏ liền một dải như tấm vải đỏ trải dài. Rồi từ phía làng, tiếng chuông “coong, coong” vọng lại — hiệu lệnh đám tang xuất phát.

やがて、白しろい着物きものを着きた葬列そうれつのものたちがやって来くるのがちらちら見みえはじめました。話声はなしごえも近ちかくなりました。葬列そうれつは墓地ぼちへはいって来きました。人々ひとびとが通とおったあとには、ひがん花ばなが、ふみおられていました。

Chẳng mấy chốc đã thấy thấp thoáng đoàn đưa tang áo trắng đi tới. Tiếng trò chuyện mỗi lúc một gần. Đoàn tang tiến vào nghĩa địa. Nơi đoàn người đi qua, hoa bỉ ngạn bị giẫm gãy rạp.

ごんはのびあがって見みました。兵十ひょうじゅうが、白しろいかみしもをつけて、位牌いはいをささげています。いつもは、赤あかいさつま芋いもみたいな元気げんきのいい顔かおが、きょうは何なんだかしおれていました。

Gon nhổm người lên nhìn. Hyōjū mặc lễ phục trắng, hai tay nâng bài vị. Khuôn mặt thường ngày hồng hào khỏe khoắn như củ khoai lang đỏ, hôm nay ủ rũ hẳn.

「ははん、死しんだのは兵十ひょうじゅうのおっ母かあだ」ごんはそう思おもいながら、頭あたまをひっこめました。

“À ra thế, người chết là mẹ của Hyōjū.” Gon vừa nghĩ vừa thụt đầu xuống.

その晩ばん、ごんは、穴あなの中なかで考かんがえました。「兵十ひょうじゅうのおっ母かあは、床とこについていて、うなぎが食たべたいと言いったにちがいない。それで兵十ひょうじゅうがはりきり網あみをもち出だしたんだ。ところが、わしがいたずらをして、うなぎをとって来きてしまった。だから兵十ひょうじゅうは、おっ母かあにうなぎを食たべさせることができなかった。そのままおっ母かあは、死しんじゃったにちがいない。ああ、うなぎが食たべたい、うなぎが食たべたいとおもいながら、死しんだんだろう。ちょッ、あんないたずらをしなけりゃよかった。」

Tối hôm ấy, trong hang, Gon ngẫm nghĩ: “Mẹ Hyōjū nằm liệt giường, chắc chắn đã nói muốn ăn lươn. Vì thế Hyōjū mới mang lưới ra suối. Vậy mà mình nghịch dại, cướp mất con lươn. Nên Hyōjū không cho mẹ ăn được lươn. Rồi cứ thế bà cụ mất. Chắc bà vừa nhắm mắt vừa ao ước: ôi thèm ăn lươn quá, thèm ăn lươn quá. Chậc, biết vậy mình đừng bày trò nghịch dại ấy.”

Từ vựng chương 二
Từ Cách đọc Nghĩa
葬式 そうしき đám tang
墓地 ぼち nghĩa địa
ひがん花 ひがんばな hoa bỉ ngạn
合図 あいず tín hiệu, hiệu lệnh
位牌 いはい bài vị
床につく とこにつく nằm liệt giường (ốm)
〜にちがいない — chắc chắn là ~ (ngữ pháp N3)
〜しなけりゃよかった — biết thế đã không làm ~ (hối hận)

三

兵十ひょうじゅうが、赤あかい井戸いどのところで、麦むぎをといでいました。兵十ひょうじゅうは今いままで、おっ母かあと二人ふたりきりで、貧まずしいくらしをしていたもので、おっ母かあが死しんでしまっては、もう一人ひとりぼっちでした。

Hyōjū đang vo lúa mạch bên cái giếng đỏ. Từ trước tới giờ anh sống nghèo khó, chỉ có hai mẹ con; mẹ mất rồi thì còn lại trơ trọi một mình.

「おれと同おなじ一人ひとりぼっちの兵十ひょうじゅうか」こちらの物置ものおきの後うしろから見みていたごんは、そう思おもいました。

“Hyōjū cũng côi cút một mình như ta sao.” Gon đứng nhìn từ sau nhà kho bên này, nghĩ vậy.

ごんは物置ものおきのそばをはなれて、向むこうへいきかけますと、どこかで、いわしを売うる声こえがします。「いわしのやすうりだアい。いきのいいいわしだアい」

Gon rời khỏi nhà kho, vừa định đi sang phía bên kia thì nghe đâu đó có tiếng rao bán cá mòi: “Cá mòi rẻ đơ~i! Cá mòi tươi roi rói đơ~i!”

ごんは、その、いせいのいい声こえのする方ほうへ走はしっていきました。と、弥助やすけのおかみさんが、裏戸口うらとぐちから、「いわしをおくれ。」と言いいました。いわし売うりは、いわしのかごをつんだ車くるまを、道みちばたにおいて、ぴかぴか光ひかるいわしを両手りょうてでつかんで、弥助やすけの家いえの中なかへもってはいりました。ごんはそのすきまに、かごの中なかから、五ご、六ろっぴきのいわしをつかみ出だして、もと来きた方ほうへかけだしました。そして、兵十ひょうじゅうの家いえの裏口うらぐちから、家いえの中なかへいわしを投なげこんで、穴あなへ向むかってかけもどりました。途中とちゅうの坂さかの上うえでふりかえって見みますと、兵十ひょうじゅうがまだ、井戸いどのところで麦むぎをといでいるのが小ちいさく見みえました。

Gon chạy về phía tiếng rao rôm rả ấy. Vừa lúc vợ Yasuke gọi từ cửa sau: “Bán tôi ít cá mòi.” Người bán cá đỗ chiếc xe chở sọt cá bên vệ đường, hai tay bốc mớ cá mòi lấp lánh mang vào nhà Yasuke. Nhân lúc ấy, Gon thò vào sọt bốc năm sáu con cá mòi rồi chạy ngược đường cũ. Nó ném cá mòi qua cửa sau vào trong nhà Hyōjū, rồi chạy về hang. Trên con dốc giữa đường, nó ngoái lại nhìn: xa xa vẫn thấy Hyōjū nhỏ xíu đang vo lúa mạch bên giếng.

ごんは、うなぎのつぐないに、まず一ひとつ、いいことをしたと思おもいました。

Gon nghĩ: để chuộc lỗi vụ con lươn, trước hết mình đã làm được một việc tốt.

つぎの日ひには、ごんは山やまで栗くりをどっさりひろって、それをかかえて、兵十ひょうじゅうの家いえへいきました。裏口うらぐちからのぞいて見みますと、兵十ひょうじゅうは、午飯ひるめしをたべかけて、茶椀ちゃわんをもったまま、ぼんやりと考かんがえこんでいました。へんなことには兵十ひょうじゅうの頬ほおぺたに、かすり傷きずがついています。どうしたんだろうと、ごんが思おもっていますと、兵十ひょうじゅうがひとりごとをいいました。「一いったいだれが、いわしなんかをおれの家いえへほうりこんでいったんだろう。おかげでおれは、盗人ぬすとと思おもわれて、いわし屋やのやつに、ひどい目めにあわされた」と、ぶつぶつ言いっています。

Hôm sau, Gon nhặt cả ôm hạt dẻ trên núi, ôm đến nhà Hyōjū. Ngó qua cửa sau, thấy Hyōjū đang ăn dở bữa trưa, tay cầm bát mà ngồi thẫn thờ suy nghĩ. Lạ là trên má anh có vết xước. Gon đang thắc mắc thì Hyōjū lẩm bẩm một mình: “Rốt cuộc đứa nào ném cá mòi vào nhà mình chứ. Tại thế mà mình bị coi là thằng ăn trộm, bị lão hàng cá cho một trận nên thân.”

ごんは、これはしまったと思おもいました。かわいそうに兵十ひょうじゅうは、いわし屋やにぶんなぐられて、あんな傷きずまでつけられたのか。ごんはこうおもいながら、そっと物置ものおきの方ほうへまわってその入口いりぐちに、栗くりをおいてかえりました。

Gon nghĩ: thôi hỏng rồi. Tội nghiệp Hyōjū, bị lão hàng cá đánh cho đến mang cả vết thương thế kia. Vừa nghĩ vậy, Gon lặng lẽ vòng ra phía nhà kho, đặt hạt dẻ ở cửa rồi ra về.

つぎの日ひも、そのつぎの日ひもごんは、栗くりをひろっては、兵十ひょうじゅうの家いえへもって来きてやりました。そのつぎの日ひには、栗くりばかりでなく、まつたけも二に、三さんぼんもっていきました。

Hôm sau, rồi hôm sau nữa, Gon đều nhặt hạt dẻ mang đến nhà Hyōjū. Hôm sau nữa, ngoài hạt dẻ nó còn mang thêm hai ba cây nấm matsutake.

Từ vựng chương 三
Từ Cách đọc Nghĩa
物置 ものおき nhà kho
いわし — cá mòi
つぐない 償い sự chuộc lỗi, đền bù
栗 くり hạt dẻ
ひとりごと 独り言 lời nói một mình, lẩm bẩm
ひどい目にあう ひどいめにあう bị một trận nên thân, gặp chuyện khốn khổ
しまった — “thôi chết/hỏng rồi!”

四

月つきのいい晩ばんでした。ごんは、ぶらぶらあそびに出でかけました。中山なかやまさまのお城しろの下したを通とおってすこしいくと、細ほそい道みちの向むこうから、だれか来くるようです。話声はなしごえが聞きこえます。チンチロリン、チンチロリンと松虫まつむしが鳴ないています。

Một đêm trăng đẹp. Gon thong dong ra ngoài dạo chơi. Đi qua chân thành ngài Nakayama một quãng, hình như có ai đang đi tới từ phía con đường nhỏ. Có tiếng trò chuyện. Dế chuông kêu rinh rích, rinh rích.

ごんは、道みちの片かたがわにかくれて、じっとしていました。話声はなしごえはだんだん近ちかくなりました。それは、兵十ひょうじゅうと加助かすけというお百姓ひゃくしょうでした。

Gon nấp bên vệ đường, im thin thít. Tiếng nói chuyện mỗi lúc một gần. Đó là Hyōjū và một bác nông dân tên Kasuke.

「そうそう、なあ加助かすけ」と、兵十ひょうじゅうがいいました。
「ああん?」
「おれあ、このごろ、とてもふしぎなことがあるんだ」
「何なにが?」
「おっ母かあが死しんでからは、だれだか知しらんが、おれに栗くりやまつたけなんかを、まいにちまいにちくれるんだよ」
「ふうん、だれが?」
「それがわからんのだよ。おれの知しらんうちに、おいていくんだ」

“À phải, này Kasuke,” Hyōjū nói.
“Hả?”
“Dạo này tao gặp chuyện lạ lắm.”
“Chuyện gì?”
“Từ hồi mẹ tao mất, chẳng biết ai mà ngày nào cũng cho tao hạt dẻ với cả nấm matsutake.”
“Hừm, ai thế?”
“Chịu, không biết. Cứ lúc tao không để ý là để đấy rồi đi.”

ごんは、ふたりのあとをつけていきました。
「ほんとかい?」
「ほんとだとも。うそと思おもうなら、あした見みに来こいよ。その栗くりを見みせてやるよ」
「へえ、へんなこともあるもんだなア」
それなり、二人ふたりはだまって歩あるいていきました。

Gon bám theo sau hai người.
“Thật à?”
“Thật chứ. Không tin thì mai đến mà xem, tao cho xem chỗ hạt dẻ.”
“Chà, đúng là chuyện lạ đời.”
Rồi hai người lặng im bước tiếp.

加助かすけがひょいと、後うしろを見みました。ごんはびくっとして、小ちいさくなってたちどまりました。加助かすけは、ごんには気きがつかないで、そのままさっさとあるきました。吉兵衛きちべえというお百姓ひゃくしょうの家いえまで来くると、二人ふたりはそこへはいっていきました。ポンポンポンポンと木魚もくぎょの音おとがしています。窓まどの障子しょうじにあかりがさしていて、大おおきな坊主頭ぼうずあたまがうつって動うごいていました。ごんは、「おねんぶつがあるんだな」と思おもいながら井戸いどのそばにしゃがんでいました。しばらくすると、また三人さんにんほど、人ひとがつれだって吉兵衛きちべえの家いえへはいっていきました。お経きょうを読よむ声こえがきこえて来きました。

Kasuke chợt ngoái đầu lại. Gon giật thót, thu mình đứng sững. Nhưng Kasuke không nhận ra Gon, cứ thế rảo bước. Đến nhà bác nông dân Kichibee, hai người đi vào trong. Tiếng mõ “pốc pốc pốc pốc” vang lên. Cửa giấy sáng ánh đèn, in bóng một cái đầu trọc to đang lay động. Gon nghĩ “đang có buổi niệm Phật đây” rồi ngồi xổm cạnh giếng. Lát sau lại có chừng ba người nữa rủ nhau vào nhà Kichibee. Tiếng tụng kinh vọng ra.

Từ vựng chương 四
Từ Cách đọc Nghĩa
ふしぎな 不思議な kỳ lạ, khó hiểu
あとをつける — bám theo, theo dõi
びくっとする — giật thót mình
木魚 もくぎょ cái mõ (nhà chùa)
念仏 ねんぶつ niệm Phật
お経 おきょう kinh Phật

五

ごんは、おねんぶつがすむまで、井戸いどのそばにしゃがんでいました。兵十ひょうじゅうと加助かすけは、また一いっしょにかえっていきます。ごんは、二人ふたりの話はなしをきこうと思おもって、ついていきました。兵十ひょうじゅうの影法師かげぼうしをふみふみいきました。

Gon ngồi xổm bên giếng đợi đến khi buổi niệm Phật xong. Hyōjū và Kasuke lại cùng nhau ra về. Gon muốn nghe hai người nói chuyện nên đi theo, vừa đi vừa giẫm lên cái bóng của Hyōjū.

お城しろの前まえまで来きたとき、加助かすけが言いい出だしました。
「さっきの話はなしは、きっと、そりゃあ、神かみさまのしわざだぞ」
「えっ?」と、兵十ひょうじゅうはびっくりして、加助かすけの顔かおを見みました。
「おれは、あれからずっと考かんがえていたが、どうも、そりゃ、人間にんげんじゃない、神かみさまだ、神かみさまが、お前まえがたった一人ひとりになったのをあわれに思おもわっしゃって、いろんなものをめぐんで下くださるんだよ」
「そうかなあ」
「そうだとも。だから、まいにち神かみさまにお礼れいを言いうがいいよ」
「うん」

Khi tới trước tòa thành, Kasuke lên tiếng:
“Cái chuyện lúc nãy ấy, chắc chắn là thần linh làm đấy.”
“Hả?” Hyōjū giật mình nhìn mặt Kasuke.
“Từ nãy tao nghĩ mãi rồi. Cái đó không phải người đâu, là thần đấy. Thần thấy mày trơ trọi một thân một mình nên thương tình, mới ban cho đủ thứ đấy.”
“Thế à…”
“Chứ còn gì nữa. Vậy nên ngày nào mày cũng nên tạ ơn thần linh đi.”
“Ừ.”

ごんは、へえ、こいつはつまらないなと思おもいました。おれが、栗くりや松まつたけを持もっていってやるのに、そのおれにはお礼れいをいわないで、神かみさまにお礼れいをいうんじゃア、おれは、引ひき合あわないなあ。

Gon nghĩ: hừ, chán thật đấy. Mình mang hạt dẻ với nấm đến cho, mà chẳng ai cảm ơn mình, lại đi cảm ơn thần linh — thế thì mình thiệt quá còn gì.

Từ vựng chương 五
Từ Cách đọc Nghĩa
影法師 かげぼうし cái bóng (người)
しわざ 仕業 việc (ai đó) làm, “tác phẩm” của ai
あわれに思う 哀れに思う thấy thương xót
めぐむ 恵む ban cho, bố thí
引き合わない ひきあわない không bõ, thiệt thòi

六

そのあくる日ひもごんは、栗くりをもって、兵十ひょうじゅうの家いえへ出でかけました。兵十ひょうじゅうは物置ものおきで縄なわをなっていました。それでごんは家いえの裏口うらぐちから、こっそり中なかへはいりました。

Hôm sau nữa, Gon lại mang hạt dẻ đến nhà Hyōjū. Hyōjū đang bện thừng trong nhà kho, nên Gon lẻn vào nhà bằng lối cửa sau.

そのとき兵十ひょうじゅうは、ふと顔かおをあげました。と狐きつねが家いえの中なかへはいったではありませんか。こないだうなぎをぬすみやがったあのごん狐ぎつねめが、またいたずらをしに来きたな。「ようし。」

Đúng lúc ấy, Hyōjū chợt ngẩng mặt lên. Kìa, chẳng phải một con cáo vừa lẻn vào nhà đó sao. Chính con cáo Gon hôm trước ăn trộm lươn, giờ lại mò đến phá đây mà. “Được lắm.”

兵十ひょうじゅうは立たちあがって、納屋なやにかけてある火縄銃ひなわじゅうをとって、火薬かやくをつめました。そして足音あしおとをしのばせてちかよって、今いま戸口とぐちを出でようとするごんを、ドンと、うちました。ごんは、ばたりとたおれました。兵十ひょうじゅうはかけよって来きました。家いえの中なかを見みると、土間どまに栗くりが、かためておいてあるのが目めにつきました。

Hyōjū đứng dậy, lấy khẩu súng hỏa mai treo trong kho, nhồi thuốc súng. Rồi anh rón rén từng bước lại gần, nhắm Gon đang lúc vừa định bước ra cửa — “ĐOÀNG” một phát. Gon ngã vật xuống. Hyōjū chạy lại. Nhìn vào trong nhà, anh chợt thấy trên nền đất, hạt dẻ được đặt gọn thành một đống.

「おや」と兵十ひょうじゅうは、びっくりしてごんに目めを落おとしました。「ごん、お前まえだったのか。いつも栗くりをくれたのは」

“Ơ kìa,” Hyōjū sững sờ, cúi nhìn Gon. “Gon… là mày đấy ư? Người vẫn cho tao hạt dẻ bấy lâu nay…”

ごんは、ぐったりと目めをつぶったまま、うなずきました。

Gon lả đi, mắt nhắm nghiền, khẽ gật đầu.

兵十ひょうじゅうは火縄銃ひなわじゅうをばたりと、とり落おとしました。青あおい煙けむりが、まだ筒口つつぐちから細ほそく出でていました。

Hyōjū buông rơi khẩu súng đánh “cạch”. Làn khói xanh vẫn còn vương ra mỏng mảnh từ đầu nòng súng.

Từ vựng chương 六
Từ Cách đọc Nghĩa
縄をなう なわをなう bện thừng
こっそり — lén lút, rón rén
火縄銃 ひなわじゅう súng hỏa mai
足音をしのばせる あしおとをしのばせる rón rén không gây tiếng động
ぐったり — lả đi, kiệt sức
うなずく — gật đầu
Nguồn văn bản gốc: 新美南吉「ごん狐」— tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「新美南吉童話集」岩波文庫、岩波書店、1996年。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.

📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.

Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.

Gửi phản hồi

Trending

Khám phá thêm từ Học tập hiệu quả, thành công dễ dàng.

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc