Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.


新美南吉 (Niimi Nankichi) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng

これは、わたしちいさいときに、むら茂平もへいというおじいさんからきいたおはなしです。

Đây là câu chuyện tôi được nghe cụ Mohei trong làng kể lại, hồi tôi còn nhỏ.

むかしは、わたしたちのむらのちかくの、中山なかやまというところにちいさなおしろがあって、中山なかやまさまというおとのさまが、おられたそうです。

Nghe nói ngày xưa, ở gần làng chúng tôi có một tòa thành nhỏ tại nơi gọi là Nakayama, và một vị lãnh chúa tên là ngài Nakayama sống ở đó.

その中山なかやまから、すこしはなれたやまなかに、「ごんぎつね」というきつねがいました。ごんは、一人ひとりぼっちの小狐こぎつねで、しだのいっぱいしげったもりなかあなをほってんでいました。そして、よるでもひるでも、あたりのむらてきて、いたずらばかりしました。はたけへはいっていもをほりちらしたり、菜種なたねがらの、ほしてあるのへをつけたり、百姓家ひゃくしょうや裏手うらてにつるしてあるとんがらしをむしりとって、いったり、いろんなことをしました。

Trong ngọn núi cách Nakayama một quãng, có một con cáo tên là “cáo Gon”. Gon là một chú cáo con côi cút, đào hang sống giữa khu rừng rậm rạp toàn dương xỉ. Rồi bất kể ngày đêm, nó mò ra các làng xung quanh, chuyên đi nghịch phá: khi thì chui vào ruộng bới tung khoai, khi thì châm lửa đốt đống rơm cải dầu đang phơi, khi thì vặt trộm ớt treo sau nhà nông dân mang đi — đủ trò cả.

あるあきのことでした。三日さんにちあめがふりつづいたそのあいだ、ごんは、そとへもられなくてあななかにしゃがんでいました。

Chuyện xảy ra vào một mùa thu nọ. Suốt hai ba ngày mưa rả rích, Gon không ra ngoài được, đành ngồi thu lu trong hang.

あめがあがると、ごんは、ほっとしてあなからはいました。そらはからっとれていて、百舌鳥もずこえがきんきん、ひびいていました。

Mưa vừa tạnh, Gon thở phào bò ra khỏi hang. Bầu trời quang đãng, tiếng chim bách thanh lảnh lót vang vọng khắp nơi.

ごんは、むら小川おがわつつみまでました。あたりの、すすきのには、まだあめのしずくがひかっていました。かわは、いつもはみずすくないのですが、三日みっかものあめで、みずが、どっとましていました。ただのときはみずにつかることのない、かわべりのすすきや、はぎかぶが、いろくにごったみずよこだおしになって、もまれています。ごんは川下かわしもほうへと、ぬかるみみちをあるいていきました。

Gon ra tới bờ đê con suối của làng. Trên những bông cỏ lau xung quanh, giọt mưa vẫn còn lấp lánh. Con suối thường ngày ít nước, nhưng sau ba ngày mưa, nước dâng lên cuồn cuộn. Những bụi lau, bụi hồ chi ven bờ ngày thường chẳng bao giờ ngập nước, giờ ngã rạp trong dòng nước đục vàng, bị sóng vùi dập. Gon men theo con đường lầy lội đi về phía hạ lưu.

ふとると、かわなかひとがいて、なにかやっています。ごんは、つからないように、そうっとくさふかいところへあるきよって、そこからじっとのぞいてみました。

Chợt nhìn, thấy có người đang làm gì đó giữa suối. Gon rón rén lại gần chỗ cỏ rậm để khỏi bị phát hiện, rồi từ đó nấp nhìn chằm chằm.

兵十ひょうじゅうだな」と、ごんはおもいました。兵十ひょうじゅうはぼろぼろのくろいきものをまくしげて、こしのところまでみずにひたりながら、さかなをとる、はりきりという、あみをゆすぶっていました。はちまきをしたかおよこっちょうに、まるいはぎいちまい、おおきな黒子ほくろみたいにへばりついていました。

“Hyōjū đây mà,” Gon nghĩ. Hyōjū vén chiếc áo đen rách bươm, ngâm mình dưới nước tới thắt lưng, đang lắc lắc chiếc lưới bắt cá gọi là harikiri. Trên khuôn mặt quấn khăn, một chiếc lá hồ chi tròn dán chặt bên má như một nốt ruồi đen to tướng.

しばらくすると、兵十ひょうじゅうは、はりきりあみいちばんうしろの、ふくろのようになったところを、みずなかからもちあげました。そのなかには、しばや、くさや、くさったぎれなどが、ごちゃごちゃはいっていましたが、でもところどころ、しろいものがきらきらひかっています。それは、ふというなぎのはらや、おおきなきすのはらでした。兵十ひょうじゅうは、びくのなかへ、そのうなぎやきすを、ごみといっしょにぶちこみました。そして、また、ふくろくちをしばって、みずなかれました。

Một lát sau, Hyōjū nhấc phần cuối cùng của tấm lưới — chỗ phình ra như cái túi — lên khỏi mặt nước. Bên trong lẫn lộn rễ cỏ, lá cây, mẩu gỗ mục, nhưng đây đó lại có những thứ trăng trắng lấp lánh: đó là bụng con lươn béo và bụng những con cá kisu to. Hyōjū ném cả lươn lẫn cá cùng đống rác vào giỏ tre, rồi buộc miệng túi lưới lại, thả xuống nước.

兵十ひょうじゅうはそれから、びくをもってかわからあがりびくを土手どてにおいといて、なにをさがしにか、川上かわかみほうへかけていきました。

Rồi Hyōjū xách giỏ lên bờ, để giỏ trên đê, chạy ngược lên phía thượng nguồn tìm kiếm gì đó.

兵十ひょうじゅうがいなくなると、ごんは、ぴょいとくさなかからとびして、びくのそばへかけつけました。ちょいと、いたずらがしたくなったのです。ごんはびくのなかさかなをつかみしては、はりきりあみのかかっているところより下手しもてかわなかがけて、ぽんぽんなげこみました。どのさかなも、「とぼん」とおとてながら、にごったみずなかへもぐりこみました。

Hyōjū vừa đi khỏi, Gon phóc ra khỏi bụi cỏ, chạy tới bên chiếc giỏ. Tự dưng nó lại nổi hứng nghịch ngợm. Gon bốc từng con cá trong giỏ, nhắm khúc suối phía dưới chỗ giăng lưới mà ném tõm tõm. Con cá nào cũng kêu “tõm” một tiếng rồi lặn mất vào dòng nước đục.

いちばんしまいに、ふというなぎをつかみにかかりましたが、なにしろぬるぬるとすべりぬけるので、ではつかめません。ごんはじれったくなって、あたまをびくのなかにつッこんで、うなぎのあたまくちにくわえました。うなぎは、キュッとってごんのくびへまきつきました。そのとたんに兵十ひょうじゅうが、むこうから、「うわアぬすとぎつねめ」と、どなりたてました。ごんは、びっくりしてとびあがりました。うなぎをふりすててにげようとしましたが、うなぎは、ごんのくびにまきついたままはなれません。ごんはそのままよこっとびにとびしていっしょうけんめいに、にげていきました。

Cuối cùng, nó định tóm con lươn to, nhưng lươn trơn nhẫy cứ tuột khỏi tay, không tài nào bắt được. Gon sốt ruột, thọc đầu vào giỏ, ngoạm đầu con lươn vào miệng. Con lươn kêu “kít” một tiếng rồi quấn chặt lấy cổ Gon. Đúng lúc ấy, từ phía bên kia, Hyōjū thét lên: “A! Con cáo ăn trộm kia!” Gon giật mình nhảy dựng. Nó định vứt con lươn để chạy, nhưng lươn quấn quanh cổ không chịu rời. Gon cứ thế phóng ngang, cắm đầu chạy thục mạng.

ほらあなちかくの、はんのしたでふりかえってましたが、兵十ひょうじゅうっかけてはませんでした。

Đến dưới gốc cây trăn gần hang, nó ngoái lại nhìn, nhưng Hyōjū không đuổi theo.

ごんは、ほっとして、うなぎのあたまをかみくだき、やっとはずしてあなのそとの、くさうえにのせておきました。

Gon thở phào, cắn nát đầu lươn, gỡ mãi mới ra, rồi đặt con lươn lên đám lá cỏ ngoài cửa hang.

Từ vựng chương 一
Từ Cách đọc Nghĩa
一人ぼっち ひとりぼっち côi cút, trơ trọi một mình
いたずら trò nghịch ngợm, phá phách
百姓 ひゃくしょう nông dân
しゃがむ ngồi xổm
つつみ bờ đê
にごる (nước) đục
のぞく nhòm, ngó trộm
うなぎ con lươn/cá chình
盗人 ぬすと・ぬすびと kẻ trộm
一生懸命 いっしょうけんめい hết sức mình, thục mạng

十日とおかほどたって、ごんが、弥助やすけというお百姓ひゃくしょういえうらとおりかかりますと、そこの、いちじくののかげで、弥助やすけ家内かないが、おはぐろをつけていました。鍛冶屋かじや新兵衛しんべえいえのうらをとおると、新兵衛しんべえ家内かないかみをすいていました。ごんは、「ふふん、むらなにかあるんだな」と、おもいました。

Chừng mười hôm sau, khi Gon đi ngang sau nhà bác nông dân Yasuke, thấy dưới bóng cây sung, vợ Yasuke đang nhuộm răng đen. Đi qua sau nhà bác thợ rèn Shinbee thì vợ Shinbee đang chải tóc. Gon nghĩ: “Hừm, trong làng chắc có chuyện gì đây.”

なんだろう、秋祭あきまつりかな。まつりなら、太鼓たいこふえおとがしそうなものだ。それに第一だいいち、おみやにのぼりがつはずだが」

“Chuyện gì nhỉ, hội mùa thu chăng? Nếu là hội thì phải nghe tiếng trống tiếng sáo chứ. Mà trước hết, sân đền phải dựng cờ phướn mới phải.”

こんなことをかんがえながらやってますと、いつのにか、おもてあか井戸いどのある、兵十ひょうじゅういえまえました。そのちいさな、こわれかけたいえなかには、大勢おおぜいひとがあつまっていました。よそいきの着物きものて、こし手拭てぬぐいをさげたりしたおんなたちが、おもてのかまどでをたいています。おおきななべなかでは、なにかぐずぐずえていました。

Vừa nghĩ vẩn vơ vừa đi, lúc nào không hay nó đã tới trước nhà Hyōjū — căn nhà có cái giếng đỏ ngoài sân. Trong căn nhà nhỏ xiêu vẹo ấy, người tụ tập đông nghịt. Mấy người đàn bà mặc áo đẹp, giắt khăn tay bên hông, đang nhóm lửa nơi bếp ngoài sân. Trong chiếc nồi lớn, thứ gì đó sôi lục bục.

「ああ、葬式そうしきだ」と、ごんはおもいました。「兵十ひょうじゅういえのだれがんだんだろう」

“À, đám tang,” Gon nghĩ. “Nhà Hyōjū có ai chết nhỉ?”

ひるがすぎると、ごんは、むら墓地ぼちって、六地蔵ろくじぞうさんのかげにかくれていました。いいお天気てんきで、とおむこうには、おしろ屋根瓦やねがわらひかっています。墓地ぼちには、ひがんばなが、あかぬののようにさきつづいていました。と、むらほうから、カーン、カーン、と、かねってました。葬式そうしき合図あいずです。

Quá trưa, Gon ra nghĩa địa của làng, nấp sau tượng sáu vị Địa Tạng. Trời đẹp, xa xa mái ngói tòa thành sáng lấp lánh. Trong nghĩa địa, hoa bỉ ngạn nở đỏ liền một dải như tấm vải đỏ trải dài. Rồi từ phía làng, tiếng chuông “coong, coong” vọng lại — hiệu lệnh đám tang xuất phát.

やがて、しろ着物きもの葬列そうれつのものたちがやってるのがちらちらえはじめました。話声はなしごえちかくなりました。葬列そうれつ墓地ぼちへはいってました。人々ひとびととおったあとには、ひがんばなが、ふみおられていました。

Chẳng mấy chốc đã thấy thấp thoáng đoàn đưa tang áo trắng đi tới. Tiếng trò chuyện mỗi lúc một gần. Đoàn tang tiến vào nghĩa địa. Nơi đoàn người đi qua, hoa bỉ ngạn bị giẫm gãy rạp.

ごんはのびあがってました。兵十ひょうじゅうが、しろいかみしもをつけて、位牌いはいをささげています。いつもは、あかいさつまいもみたいな元気げんきのいいかおが、きょうはなんだかしおれていました。

Gon nhổm người lên nhìn. Hyōjū mặc lễ phục trắng, hai tay nâng bài vị. Khuôn mặt thường ngày hồng hào khỏe khoắn như củ khoai lang đỏ, hôm nay ủ rũ hẳn.

「ははん、んだのは兵十ひょうじゅうのおっかあだ」ごんはそうおもいながら、あたまをひっこめました。

“À ra thế, người chết là mẹ của Hyōjū.” Gon vừa nghĩ vừa thụt đầu xuống.

そのばん、ごんは、あななかかんがえました。「兵十ひょうじゅうのおっかあは、とこについていて、うなぎがべたいとったにちがいない。それで兵十ひょうじゅうがはりきりあみをもちしたんだ。ところが、わしがいたずらをして、うなぎをとっててしまった。だから兵十ひょうじゅうは、おっかあにうなぎをべさせることができなかった。そのままおっかあは、んじゃったにちがいない。ああ、うなぎがべたい、うなぎがべたいとおもいながら、んだんだろう。ちょッ、あんないたずらをしなけりゃよかった。」

Tối hôm ấy, trong hang, Gon ngẫm nghĩ: “Mẹ Hyōjū nằm liệt giường, chắc chắn đã nói muốn ăn lươn. Vì thế Hyōjū mới mang lưới ra suối. Vậy mà mình nghịch dại, cướp mất con lươn. Nên Hyōjū không cho mẹ ăn được lươn. Rồi cứ thế bà cụ mất. Chắc bà vừa nhắm mắt vừa ao ước: ôi thèm ăn lươn quá, thèm ăn lươn quá. Chậc, biết vậy mình đừng bày trò nghịch dại ấy.”

Từ vựng chương 二
Từ Cách đọc Nghĩa
葬式 そうしき đám tang
墓地 ぼち nghĩa địa
ひがん花 ひがんばな hoa bỉ ngạn
合図 あいず tín hiệu, hiệu lệnh
位牌 いはい bài vị
床につく とこにつく nằm liệt giường (ốm)
〜にちがいない chắc chắn là ~ (ngữ pháp N3)
〜しなけりゃよかった biết thế đã không làm ~ (hối hận)

兵十ひょうじゅうが、あか井戸いどのところで、むぎをといでいました。兵十ひょうじゅういままで、おっかあ二人ふたりきりで、まずしいくらしをしていたもので、おっかあんでしまっては、もう一人ひとりぼっちでした。

Hyōjū đang vo lúa mạch bên cái giếng đỏ. Từ trước tới giờ anh sống nghèo khó, chỉ có hai mẹ con; mẹ mất rồi thì còn lại trơ trọi một mình.

「おれとおな一人ひとりぼっちの兵十ひょうじゅうか」こちらの物置ものおきうしろからていたごんは、そうおもいました。

“Hyōjū cũng côi cút một mình như ta sao.” Gon đứng nhìn từ sau nhà kho bên này, nghĩ vậy.

ごんは物置ものおきのそばをはなれて、むこうへいきかけますと、どこかで、いわしをこえがします。「いわしのやすうりだアい。いきのいいいわしだアい」

Gon rời khỏi nhà kho, vừa định đi sang phía bên kia thì nghe đâu đó có tiếng rao bán cá mòi: “Cá mòi rẻ đơ~i! Cá mòi tươi roi rói đơ~i!”

ごんは、その、いせいのいいこえのするほうはしっていきました。と、弥助やすけのおかみさんが、裏戸口うらとぐちから、「いわしをおくれ。」といました。いわしうりは、いわしのかごをつんだくるまを、みちばたにおいて、ぴかぴかひかるいわしを両手りょうてでつかんで、弥助やすけいえなかへもってはいりました。ごんはそのすきまに、かごのなかから、ろっぴきのいわしをつかみして、もとほうへかけだしました。そして、兵十ひょうじゅういえ裏口うらぐちから、いえなかへいわしをげこんで、あなむかってかけもどりました。途中とちゅうさかうえでふりかえってますと、兵十ひょうじゅうがまだ、井戸いどのところでむぎをといでいるのがちいさくえました。

Gon chạy về phía tiếng rao rôm rả ấy. Vừa lúc vợ Yasuke gọi từ cửa sau: “Bán tôi ít cá mòi.” Người bán cá đỗ chiếc xe chở sọt cá bên vệ đường, hai tay bốc mớ cá mòi lấp lánh mang vào nhà Yasuke. Nhân lúc ấy, Gon thò vào sọt bốc năm sáu con cá mòi rồi chạy ngược đường cũ. Nó ném cá mòi qua cửa sau vào trong nhà Hyōjū, rồi chạy về hang. Trên con dốc giữa đường, nó ngoái lại nhìn: xa xa vẫn thấy Hyōjū nhỏ xíu đang vo lúa mạch bên giếng.

ごんは、うなぎのつぐないに、まずひとつ、いいことをしたとおもいました。

Gon nghĩ: để chuộc lỗi vụ con lươn, trước hết mình đã làm được một việc tốt.

つぎのには、ごんはやまくりをどっさりひろって、それをかかえて、兵十ひょうじゅういえへいきました。裏口うらぐちからのぞいてますと、兵十ひょうじゅうは、午飯ひるめしをたべかけて、茶椀ちゃわんをもったまま、ぼんやりとかんがえこんでいました。へんなことには兵十ひょうじゅうほおぺたに、かすりきずがついています。どうしたんだろうと、ごんがおもっていますと、兵十ひょうじゅうがひとりごとをいいました。「いったいだれが、いわしなんかをおれのいえへほうりこんでいったんだろう。おかげでおれは、盗人ぬすとおもわれて、いわしのやつに、ひどいにあわされた」と、ぶつぶつっています。

Hôm sau, Gon nhặt cả ôm hạt dẻ trên núi, ôm đến nhà Hyōjū. Ngó qua cửa sau, thấy Hyōjū đang ăn dở bữa trưa, tay cầm bát mà ngồi thẫn thờ suy nghĩ. Lạ là trên má anh có vết xước. Gon đang thắc mắc thì Hyōjū lẩm bẩm một mình: “Rốt cuộc đứa nào ném cá mòi vào nhà mình chứ. Tại thế mà mình bị coi là thằng ăn trộm, bị lão hàng cá cho một trận nên thân.”

ごんは、これはしまったとおもいました。かわいそうに兵十ひょうじゅうは、いわしにぶんなぐられて、あんなきずまでつけられたのか。ごんはこうおもいながら、そっと物置ものおきほうへまわってその入口いりぐちに、くりをおいてかえりました。

Gon nghĩ: thôi hỏng rồi. Tội nghiệp Hyōjū, bị lão hàng cá đánh cho đến mang cả vết thương thế kia. Vừa nghĩ vậy, Gon lặng lẽ vòng ra phía nhà kho, đặt hạt dẻ ở cửa rồi ra về.

つぎのも、そのつぎのもごんは、くりをひろっては、兵十ひょうじゅういえへもっててやりました。そのつぎのには、くりばかりでなく、まつたけもさんぼんもっていきました。

Hôm sau, rồi hôm sau nữa, Gon đều nhặt hạt dẻ mang đến nhà Hyōjū. Hôm sau nữa, ngoài hạt dẻ nó còn mang thêm hai ba cây nấm matsutake.

Từ vựng chương 三
Từ Cách đọc Nghĩa
物置 ものおき nhà kho
いわし cá mòi
つぐない 償い sự chuộc lỗi, đền bù
くり hạt dẻ
ひとりごと 独り言 lời nói một mình, lẩm bẩm
ひどい目にあう ひどいめにあう bị một trận nên thân, gặp chuyện khốn khổ
しまった “thôi chết/hỏng rồi!”

つきのいいばんでした。ごんは、ぶらぶらあそびにかけました。中山なかやまさまのおしろしたとおってすこしいくと、ほそみちむこうから、だれかるようです。話声はなしごえきこえます。チンチロリン、チンチロリンと松虫まつむしいています。

Một đêm trăng đẹp. Gon thong dong ra ngoài dạo chơi. Đi qua chân thành ngài Nakayama một quãng, hình như có ai đang đi tới từ phía con đường nhỏ. Có tiếng trò chuyện. Dế chuông kêu rinh rích, rinh rích.

ごんは、みちかたがわにかくれて、じっとしていました。話声はなしごえはだんだんちかくなりました。それは、兵十ひょうじゅう加助かすけというお百姓ひゃくしょうでした。

Gon nấp bên vệ đường, im thin thít. Tiếng nói chuyện mỗi lúc một gần. Đó là Hyōjū và một bác nông dân tên Kasuke.

「そうそう、なあ加助かすけ」と、兵十ひょうじゅうがいいました。
「ああん?」
「おれあ、このごろ、とてもふしぎなことがあるんだ」
なにが?」
「おっかあんでからは、だれだからんが、おれにくりやまつたけなんかを、まいにちまいにちくれるんだよ」
「ふうん、だれが?」
「それがわからんのだよ。おれのらんうちに、おいていくんだ」

“À phải, này Kasuke,” Hyōjū nói.
“Hả?”
“Dạo này tao gặp chuyện lạ lắm.”
“Chuyện gì?”
“Từ hồi mẹ tao mất, chẳng biết ai mà ngày nào cũng cho tao hạt dẻ với cả nấm matsutake.”
“Hừm, ai thế?”
“Chịu, không biết. Cứ lúc tao không để ý là để đấy rồi đi.”

ごんは、ふたりのあとをつけていきました。
「ほんとかい?」
「ほんとだとも。うそとおもうなら、あしたいよ。そのくりせてやるよ」
「へえ、へんなこともあるもんだなア」
それなり、二人ふたりはだまってあるいていきました。

Gon bám theo sau hai người.
“Thật à?”
“Thật chứ. Không tin thì mai đến mà xem, tao cho xem chỗ hạt dẻ.”
“Chà, đúng là chuyện lạ đời.”
Rồi hai người lặng im bước tiếp.

加助かすけがひょいと、うしろました。ごんはびくっとして、ちいさくなってたちどまりました。加助かすけは、ごんにはがつかないで、そのままさっさとあるきました。吉兵衛きちべえというお百姓ひゃくしょういえまでると、二人ふたりはそこへはいっていきました。ポンポンポンポンと木魚もくぎょおとがしています。まど障子しょうじにあかりがさしていて、おおきな坊主頭ぼうずあたまがうつってうごいていました。ごんは、「おねんぶつがあるんだな」とおもいながら井戸いどのそばにしゃがんでいました。しばらくすると、また三人さんにんほど、ひとがつれだって吉兵衛きちべえいえへはいっていきました。おきょうこえがきこえてました。

Kasuke chợt ngoái đầu lại. Gon giật thót, thu mình đứng sững. Nhưng Kasuke không nhận ra Gon, cứ thế rảo bước. Đến nhà bác nông dân Kichibee, hai người đi vào trong. Tiếng mõ “pốc pốc pốc pốc” vang lên. Cửa giấy sáng ánh đèn, in bóng một cái đầu trọc to đang lay động. Gon nghĩ “đang có buổi niệm Phật đây” rồi ngồi xổm cạnh giếng. Lát sau lại có chừng ba người nữa rủ nhau vào nhà Kichibee. Tiếng tụng kinh vọng ra.

Từ vựng chương 四
Từ Cách đọc Nghĩa
ふしぎな 不思議な kỳ lạ, khó hiểu
あとをつける bám theo, theo dõi
びくっとする giật thót mình
木魚 もくぎょ cái mõ (nhà chùa)
念仏 ねんぶつ niệm Phật
お経 おきょう kinh Phật

ごんは、おねんぶつがすむまで、井戸いどのそばにしゃがんでいました。兵十ひょうじゅう加助かすけは、またいっしょにかえっていきます。ごんは、二人ふたりはなしをきこうとおもって、ついていきました。兵十ひょうじゅう影法師かげぼうしをふみふみいきました。

Gon ngồi xổm bên giếng đợi đến khi buổi niệm Phật xong. Hyōjū và Kasuke lại cùng nhau ra về. Gon muốn nghe hai người nói chuyện nên đi theo, vừa đi vừa giẫm lên cái bóng của Hyōjū.

しろまえまでたとき、加助かすけしました。
「さっきのはなしは、きっと、そりゃあ、かみさまのしわざだぞ」
「えっ?」と、兵十ひょうじゅうはびっくりして、加助かすけかおました。
「おれは、あれからずっとかんがえていたが、どうも、そりゃ、人間にんげんじゃない、かみさまだ、かみさまが、おまえがたった一人ひとりになったのをあわれにおもわっしゃって、いろんなものをめぐんでくださるんだよ」
「そうかなあ」
「そうだとも。だから、まいにちかみさまにおれいうがいいよ」
「うん」

Khi tới trước tòa thành, Kasuke lên tiếng:
“Cái chuyện lúc nãy ấy, chắc chắn là thần linh làm đấy.”
“Hả?” Hyōjū giật mình nhìn mặt Kasuke.
“Từ nãy tao nghĩ mãi rồi. Cái đó không phải người đâu, là thần đấy. Thần thấy mày trơ trọi một thân một mình nên thương tình, mới ban cho đủ thứ đấy.”
“Thế à…”
“Chứ còn gì nữa. Vậy nên ngày nào mày cũng nên tạ ơn thần linh đi.”
“Ừ.”

ごんは、へえ、こいつはつまらないなとおもいました。おれが、くりまつたけをっていってやるのに、そのおれにはおれいをいわないで、かみさまにおれいをいうんじゃア、おれは、わないなあ。

Gon nghĩ: hừ, chán thật đấy. Mình mang hạt dẻ với nấm đến cho, mà chẳng ai cảm ơn mình, lại đi cảm ơn thần linh — thế thì mình thiệt quá còn gì.

Từ vựng chương 五
Từ Cách đọc Nghĩa
影法師 かげぼうし cái bóng (người)
しわざ 仕業 việc (ai đó) làm, “tác phẩm” của ai
あわれに思う 哀れに思う thấy thương xót
めぐむ 恵む ban cho, bố thí
引き合わない ひきあわない không bõ, thiệt thòi

そのあくるもごんは、くりをもって、兵十ひょうじゅういえかけました。兵十ひょうじゅう物置ものおきなわをなっていました。それでごんはいえ裏口うらぐちから、こっそりなかへはいりました。

Hôm sau nữa, Gon lại mang hạt dẻ đến nhà Hyōjū. Hyōjū đang bện thừng trong nhà kho, nên Gon lẻn vào nhà bằng lối cửa sau.

そのとき兵十ひょうじゅうは、ふとかおをあげました。ときつねいえなかへはいったではありませんか。こないだうなぎをぬすみやがったあのごんぎつねめが、またいたずらをしにたな。「ようし。」

Đúng lúc ấy, Hyōjū chợt ngẩng mặt lên. Kìa, chẳng phải một con cáo vừa lẻn vào nhà đó sao. Chính con cáo Gon hôm trước ăn trộm lươn, giờ lại mò đến phá đây mà. “Được lắm.”

兵十ひょうじゅうちあがって、納屋なやにかけてある火縄銃ひなわじゅうをとって、火薬かやくをつめました。そして足音あしおとをしのばせてちかよって、いま戸口とぐちようとするごんを、ドンと、うちました。ごんは、ばたりとたおれました。兵十ひょうじゅうはかけよってました。いえなかると、土間どまくりが、かためておいてあるのがにつきました。

Hyōjū đứng dậy, lấy khẩu súng hỏa mai treo trong kho, nhồi thuốc súng. Rồi anh rón rén từng bước lại gần, nhắm Gon đang lúc vừa định bước ra cửa — “ĐOÀNG” một phát. Gon ngã vật xuống. Hyōjū chạy lại. Nhìn vào trong nhà, anh chợt thấy trên nền đất, hạt dẻ được đặt gọn thành một đống.

「おや」と兵十ひょうじゅうは、びっくりしてごんにおとしました。「ごん、おまえだったのか。いつもくりをくれたのは」

“Ơ kìa,” Hyōjū sững sờ, cúi nhìn Gon. “Gon… là mày đấy ư? Người vẫn cho tao hạt dẻ bấy lâu nay…”

ごんは、ぐったりとをつぶったまま、うなずきました。

Gon lả đi, mắt nhắm nghiền, khẽ gật đầu.

兵十ひょうじゅう火縄銃ひなわじゅうをばたりと、とりおとしました。あおけむりが、まだ筒口つつぐちからほそていました。

Hyōjū buông rơi khẩu súng đánh “cạch”. Làn khói xanh vẫn còn vương ra mỏng mảnh từ đầu nòng súng.

Từ vựng chương 六
Từ Cách đọc Nghĩa
縄をなう なわをなう bện thừng
こっそり lén lút, rón rén
火縄銃 ひなわじゅう súng hỏa mai
足音をしのばせる あしおとをしのばせる rón rén không gây tiếng động
ぐったり lả đi, kiệt sức
うなずく gật đầu
Nguồn văn bản gốc: 新美南吉「ごん狐」— tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「新美南吉童話集」岩波文庫、岩波書店、1996年。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.

📚 Bạn thích cách đọc này? Đây là 1 trong bộ 11 truyện ngắn kinh điển Nhật Bản song ngữ (Niimi Nankichi, Miyazawa Kenji, Akutagawa, Dazai — xếp theo trình độ N4 → N2) mà mình đã biên soạn trọn bộ. Bài tiếp theo sẽ đăng dần trên blog; bạn muốn nhận trọn bộ sớm hoặc góp ý thì để lại bình luận nhé.

Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.

Gửi phản hồi

Trending

Khám phá thêm từ Học tập hiệu quả, thành công dễ dàng.

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc