Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.
芥川龍之介 (Akutagawa Ryūnosuke) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng
一
ある日の事でございます。御釈迦様は極楽の蓮池のふちを、独りでぶらぶら御歩きになっていらっしゃいました。池の中に咲いている蓮の花は、みんな玉のようにまっ白で、そのまん中にある金色の蕊からは、何とも云えない好い匂が、絶間なくあたりへ溢れて居ります。極楽は丁度朝なのでございましょう。
Chuyện xảy ra vào một ngày nọ. Đức Phật Thích Ca đang một mình thong thả dạo bước bên bờ hồ sen nơi cõi Cực Lạc. Những đóa sen nở trong hồ đều trắng muốt như ngọc, và từ nhụy hoa vàng óng ở chính giữa, một mùi hương thơm không sao tả xiết cứ tỏa ra không ngớt khắp xung quanh. Ở cõi Cực Lạc, hẳn lúc ấy đang là buổi sáng.
やがて御釈迦様はその池のふちに御佇みになって、水の面を蔽っている蓮の葉の間から、ふと下の容子を御覧になりました。この極楽の蓮池の下は、丁度地獄の底に当って居りますから、水晶のような水を透き徹して、三途の河や針の山の景色が、丁度覗き眼鏡を見るように、はっきりと見えるのでございます。
Rồi Đức Phật dừng chân bên bờ hồ, qua kẽ những lá sen phủ trên mặt nước, ngài chợt nhìn xuống quang cảnh phía dưới. Bên dưới hồ sen Cực Lạc này chính là đáy Địa Ngục, nên xuyên qua làn nước trong như pha lê, cảnh sông Tam Đồ và núi kim châm hiện lên rõ mồn một, hệt như nhìn qua một chiếc kính vạn hoa.
するとその地獄の底に、犍陀多と云う男が一人、ほかの罪人と一しょに蠢いている姿が、御眼に止まりました。この犍陀多と云う男は、人を殺したり家に火をつけたり、いろいろ悪事を働いた大泥坊でございますが、それでもたった一つ、善い事を致した覚えがございます。と申しますのは、ある時この男が深い林の中を通りますと、小さな蜘蛛が一匹、路ばたを這って行くのが見えました。そこで犍陀多は早速足を挙げて、踏み殺そうと致しましたが、「いや、いや、これも小さいながら、命のあるものに違いない。その命を無暗にとると云う事は、いくら何でも可哀そうだ。」と、こう急に思い返して、とうとうその蜘蛛を殺さずに助けてやったからでございます。
Bấy giờ, dưới đáy Địa Ngục ấy, hình bóng một gã đàn ông tên là Kandata đang lúc nhúc cùng đám tội nhân khác lọt vào mắt ngài. Gã Kandata này là một tên đại đạo tặc từng giết người, đốt nhà, làm đủ điều ác; thế nhưng hắn cũng có đúng một lần làm việc thiện. Số là có lần, khi đi qua khu rừng sâu, hắn thấy một con nhện nhỏ đang bò bên vệ đường. Kandata lập tức giơ chân định giẫm chết, nhưng rồi chợt nghĩ lại: “Khoan, khoan. Con vật này tuy nhỏ nhưng cũng là một sinh mạng. Vô cớ cướp đi mạng sống của nó thì dù sao cũng tội nghiệp quá.” Và cuối cùng hắn đã tha, không giết con nhện ấy.
御釈迦様は地獄の容子を御覧になりながら、この犍陀多には蜘蛛を助けた事があるのを御思い出しになりました。そうしてそれだけの善い事をした報には、出来るなら、この男を地獄から救い出してやろうと御考えになりました。幸い、側を見ますと、翡翠のような色をした蓮の葉の上に、極楽の蜘蛛が一匹、美しい銀色の糸をかけて居ります。御釈迦様はその蜘蛛の糸をそっと御手に御取りになって、玉のような白蓮の間から、遥か下にある地獄の底へ、まっすぐにそれを御下しなさいました。
Vừa ngắm nhìn quang cảnh Địa Ngục, Đức Phật vừa nhớ ra chuyện Kandata từng cứu con nhện. Và ngài nghĩ: để đền đáp cho một việc thiện chừng ấy, nếu có thể, ngài sẽ cứu gã ra khỏi Địa Ngục. May thay, nhìn sang bên cạnh, trên chiếc lá sen màu ngọc bích, một con nhện của cõi Cực Lạc đang giăng sợi tơ bạc tuyệt đẹp. Đức Phật khẽ cầm lấy sợi tơ nhện ấy, rồi thả nó xuyên qua những đóa sen trắng như ngọc, thẳng xuống đáy Địa Ngục thăm thẳm phía dưới.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 御釈迦様 | おしゃかさま | Đức Phật Thích Ca |
| 極楽 | ごくらく | cõi Cực Lạc |
| 地獄 | じごく | Địa Ngục |
| 蓮池 | はすいけ | hồ sen |
| 罪人 | ざいにん | tội nhân |
| 泥坊 | どろぼう | kẻ trộm (大泥坊: đại đạo tặc) |
| 悪事を働く | あくじをはたらく | làm điều ác |
| 命 | いのち | sinh mạng |
| 報い | むくい | quả báo, sự đền đáp |
| 救い出す | すくいだす | cứu ra khỏi |
二
こちらは地獄の底の血の池で、ほかの罪人と一しょに、浮いたり沈んだりしていた犍陀多でございます。何しろどちらを見ても、まっ暗で、たまにそのくら暗からぼんやり浮き上っているものがあると思いますと、それは恐しい針の山の針が光るのでございますから、その心細さと云ったらございません。その上あたりは墓の中のようにしんと静まり返って、たまに聞えるものと云っては、ただ罪人がつく微な嘆息ばかりでございます。これはここへ落ちて来るほどの人間は、もうさまざまな地獄の責苦に疲れはてて、泣声を出す力さえなくなっているのでございましょう。ですからさすが大泥坊の犍陀多も、やはり血の池の血に咽びながら、まるで死にかかった蛙のように、ただもがいてばかり居りました。
Còn ở dưới này, nơi ao máu đáy Địa Ngục, Kandata đang cùng đám tội nhân khác chìm nổi lặn ngụp. Nhìn hướng nào cũng chỉ một màu đen kịt; họa hoằn có thứ gì lờ mờ nổi lên giữa bóng tối ấy, thì đó lại là ánh lấp lóa của những mũi kim trên ngọn núi kim châm khủng khiếp — nỗi hoang mang cô quạnh thật không sao kể xiết. Xung quanh lại lặng ngắt như trong nấm mồ; thảng hoặc có nghe thấy gì thì cũng chỉ là tiếng thở dài yếu ớt của đám tội nhân. Chắc hẳn những kẻ đã rơi xuống tận đây đều kiệt quệ vì bao cực hình của Địa Ngục, đến sức để bật ra tiếng khóc cũng chẳng còn. Vậy nên ngay cả tay đại đạo tặc Kandata cũng chỉ biết vừa sặc sụa trong máu của ao máu, vừa giãy giụa như một con ếch đang hấp hối.
ところがある時の事でございます。何気なく犍陀多が頭を挙げて、血の池の空を眺めますと、そのひっそりとした暗の中を、遠い遠い天上から、銀色の蜘蛛の糸が、まるで人目にかかるのを恐れるように、一すじ細く光りながら、するすると自分の上へ垂れて参るのではございませんか。犍陀多はこれを見ると、思わず手を拍って喜びました。この糸に縋りついて、どこまでものぼって行けば、きっと地獄からぬけ出せるのに相違ございません。いや、うまく行くと、極楽へはいる事さえも出来ましょう。そうすれば、もう針の山へ追い上げられる事もなくなれば、血の池に沈められる事もある筈はございません。
Thế rồi một lúc nọ, Kandata tình cờ ngẩng đầu nhìn lên bầu trời của ao máu — thì kìa, giữa màn đêm tĩnh mịch, từ trời cao xa tít tắp, một sợi tơ nhện màu bạc, như thể sợ người ta trông thấy, đang lấp lánh một vệt mảnh mai, tuồn tuột buông xuống ngay trên đầu hắn. Thấy vậy, Kandata mừng đến vỗ tay reo. Cứ bám lấy sợi tơ này mà leo lên mãi, chắc chắn sẽ thoát được khỏi Địa Ngục. Không chừng, nếu thuận lợi, còn có thể vào được cả Cực Lạc nữa. Được thế thì sẽ chẳng bao giờ còn bị xua lên núi kim châm, cũng chẳng còn bị dìm xuống ao máu nữa.
こう思いましたから犍陀多は、早速その蜘蛛の糸を両手でしっかりとつかみながら、一生懸命に上へ上へとたぐりのぼり始めました。元より大泥坊の事でございますから、こう云う事には昔から、慣れ切っているのでございます。
Nghĩ vậy, Kandata lập tức nắm chặt sợi tơ nhện bằng cả hai tay, ra sức leo lên, lên mãi. Vốn là đại đạo tặc, những trò như thế này hắn đã quen tay từ thuở nào rồi.
しかし地獄と極楽との間は、何万里となくございますから、いくら焦って見た所で、容易に上へは出られません。ややしばらくのぼる中に、とうとう犍陀多もくたびれて、もう一たぐりも上の方へはのぼれなくなってしまいました。そこで仕方がございませんから、まず一休み休むつもりで、糸の中途にぶら下りながら、遥かに目の下を見下しました。
Nhưng từ Địa Ngục lên đến Cực Lạc phải xa hàng vạn dặm, nên dù sốt ruột đến mấy cũng chẳng dễ gì lên tới nơi. Leo được một hồi, rốt cuộc Kandata cũng mệt lử, không kéo thêm nổi một sải tay nào nữa. Chẳng còn cách nào, hắn đành nghỉ chân một lát, buông mình lơ lửng giữa chừng sợi tơ, cúi nhìn xuống dưới sâu hun hút.
すると、一生懸命にのぼった甲斐があって、さっきまで自分がいた血の池は、今ではもう暗の底にいつの間にかかくれて居ります。それからあのぼんやり光っている恐しい針の山も、足の下になってしまいました。この分でのぼって行けば、地獄からぬけ出すのも、存外わけがないかも知れません。犍陀多は両手を蜘蛛の糸にからみながら、ここへ来てから何年にも出した事のない声で、「しめた。しめた。」と笑いました。ところがふと気がつきますと、蜘蛛の糸の下の方には、数限もない罪人たちが、自分ののぼった後をつけて、まるで蟻の行列のように、やはり上へ上へ一心によじのぼって来るではございませんか。犍陀多はこれを見ると、驚いたのと恐しいのとで、しばらくはただ、莫迦のように大きな口を開いたまま、眼ばかり動かして居りました。自分一人でさえ断れそうな、この細い蜘蛛の糸が、どうしてあれだけの人数の重みに堪える事が出来ましょう。もし万一途中で断れたと致しましたら、折角ここへまでのぼって来たこの肝腎な自分までも、元の地獄へ逆落しに落ちてしまわなければなりません。そんな事があったら、大変でございます。が、そう云う中にも、罪人たちは何百となく何千となく、まっ暗な血の池の底から、うようよと這い上って、細く光っている蜘蛛の糸を、一列になりながら、せっせとのぼって参ります。今の中にどうかしなければ、糸はまん中から二つに断れて、落ちてしまうのに違いありません。
Và kìa, công leo trối chết cũng bõ: ao máu nơi hắn vừa ngoi ngóp ban nãy giờ đã khuất hẳn dưới đáy bóng tối tự bao giờ. Cả ngọn núi kim châm khủng khiếp lấp lóa mờ mờ kia cũng đã nằm dưới chân hắn. Cứ đà này mà leo, thoát khỏi Địa Ngục có khi lại dễ hơn tưởng. Kandata quấn hai tay vào sợi tơ, bật cười bằng cái giọng mà từ khi rơi xuống đây bao nhiêu năm hắn chưa từng thốt ra: “Ngon rồi! Ngon rồi!” Nhưng chợt nhìn lại, hắn thấy phía dưới sợi tơ, vô số tội nhân đang bám theo dấu hắn, nối nhau như một đàn kiến, cũng đang một mực trèo lên, lên mãi. Thấy cảnh ấy, Kandata vừa kinh ngạc vừa hoảng sợ, một lúc lâu chỉ biết há hốc mồm như thằng ngốc, đảo mắt nhìn quanh. Sợi tơ nhện mảnh mai này, một mình hắn thôi đã tưởng chừng sắp đứt, làm sao chịu nổi sức nặng của ngần ấy con người? Lỡ nó đứt giữa chừng, thì chính bản thân hắn — kẻ đã nhọc công leo lên được đến tận đây — cũng phải lộn cổ rơi trở lại Địa Ngục cũ. Chuyện ấy mà xảy ra thì nguy to. Nhưng trong lúc đó, đám tội nhân hàng trăm rồi hàng nghìn vẫn lúc nhúc bò lên từ đáy ao máu tối om, xếp thành một hàng dọc theo sợi tơ lấp lánh mảnh mai, hối hả trèo lên. Không làm gì ngay bây giờ, sợi tơ chắc chắn sẽ đứt đôi ở giữa mà rơi xuống mất.
そこで犍陀多は大きな声を出して、「こら、罪人ども。この蜘蛛の糸は己のものだぞ。お前たちは一体誰に尋いて、のぼって来た。下りろ。下りろ。」と喚きました。
Thế là Kandata gào lớn: “Này, lũ tội nhân kia! Sợi tơ nhện này là của tao! Chúng mày hỏi ai cho phép mà leo lên hả? Xuống! Xuống ngay!”
その途端でございます。今まで何ともなかった蜘蛛の糸が、急に犍陀多のぶら下っている所から、ぷつりと音を立てて断れました。ですから犍陀多もたまりません。あっと云う間もなく風を切って、独楽のようにくるくるまわりながら、見る見る中に暗の底へ、まっさかさまに落ちてしまいました。
Đúng khoảnh khắc ấy, sợi tơ nhện nãy giờ vẫn nguyên vẹn bỗng “phựt” một tiếng, đứt ngay tại chỗ Kandata đang bám. Thế là hết đường cho Kandata. Chưa kịp kêu “á” một tiếng, hắn đã xé gió, xoay tít như con quay, trong nháy mắt cắm đầu rơi thẳng xuống đáy vực tối đen.
後にはただ極楽の蜘蛛の糸が、きらきらと細く光りながら、月も星もない空の中途に、短く垂れているばかりでございます。
Sau đó chỉ còn lại sợi tơ nhện của cõi Cực Lạc, lấp lánh mảnh mai, buông lửng lơ một đoạn ngắn giữa khoảng trời không trăng không sao.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 血の池 | ちのいけ | ao máu |
| 心細い | こころぼそい | hoang mang, cô quạnh |
| 嘆息 | たんそく | tiếng thở dài |
| 責苦 | せめく | cực hình |
| 縋りつく | すがりつく | bám víu lấy |
| 〜に相違ない | そういない | chắc chắn là ~ (văn viết, N2) |
| 甲斐がある | かいがある | bõ công, đáng công |
| 万一 | まんいち | lỡ như, vạn nhất |
| 肝腎な | かんじんな | quan trọng nhất, cốt yếu |
| 途端に | とたんに | ngay khoảnh khắc ~ (ngữ pháp N3) |
三
御釈迦様は極楽の蓮池のふちに立って、この一部始終をじっと見ていらっしゃいましたが、やがて犍陀多が血の池の底へ石のように沈んでしまいますと、悲しそうな御顔をなさりながら、またぶらぶら御歩きになり始めました。自分ばかり地獄からぬけ出そうとする、犍陀多の無慈悲な心が、そうしてその心相当な罰をうけて、元の地獄へ落ちてしまったのが、御釈迦様の御目から見ると、浅間しく思召されたのでございましょう。
Đức Phật Thích Ca đứng bên bờ hồ sen Cực Lạc, lặng lẽ chứng kiến toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối. Khi Kandata chìm xuống đáy ao máu như một hòn đá, ngài thoáng nét mặt buồn bã, rồi lại thong thả tiếp tục dạo bước. Cái tâm không chút từ bi của Kandata — chỉ muốn một mình mình thoát khỏi Địa Ngục — và việc cái tâm ấy nhận đúng hình phạt tương xứng để rơi trở lại Địa Ngục cũ, dưới mắt Đức Phật, hẳn là điều đáng thương thay cho sự ti tiện của con người.
しかし極楽の蓮池の蓮は、少しもそんな事には頓着致しません。その玉のような白い花は、御釈迦様の御足のまわりに、ゆらゆら萼を動かして、そのまん中にある金色の蕊からは、何とも云えない好い匂が、絶間なくあたりへ溢れて居ります。極楽ももう午に近くなったのでございましょう。
Nhưng những đóa sen nơi hồ sen Cực Lạc thì chẳng mảy may bận tâm đến chuyện ấy. Những bông hoa trắng như ngọc khẽ lay đài hoa quanh gót chân Đức Phật, và từ nhụy vàng óng ở chính giữa, mùi hương thơm không sao tả xiết vẫn tỏa ra không ngớt khắp xung quanh. Ở cõi Cực Lạc, có lẽ trời cũng đã gần trưa.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 一部始終 | いちぶしじゅう | toàn bộ sự việc từ đầu đến cuối |
| 無慈悲 | むじひ | không từ bi, nhẫn tâm |
| 罰 | ばつ | hình phạt |
| 浅ましい | あさましい | ti tiện, đáng khinh |
| 頓着しない | とんじゃくしない | không bận tâm |
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「芥川龍之介全集2」ちくま文庫、筑摩書房。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.
📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.
Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.





Gửi phản hồi