Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.
宮沢賢治 (Miyazawa Kenji) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng
二人の若い紳士が、すっかりイギリスの兵隊のかたちをして、ぴかぴかする鉄砲をかついで、白熊のような犬を二疋つれて、だいぶ山奥の、木の葉のかさかさしたとこを、こんなことを云いながら、あるいておりました。
Hai quý ông trẻ tuổi, vận nguyên bộ đồ lính Anh, vác khẩu súng săn bóng loáng, dắt theo hai con chó to như gấu trắng, đang lững thững đi giữa chốn núi sâu lá khô xào xạc, mồm nói những chuyện thế này:
「ぜんたい、ここらの山は怪しからんね。鳥も獣も一疋も居やがらん。なんでも構わないから、早くタンタアーンと、やって見たいもんだなあ。」「鹿の黄いろな横っ腹なんぞに、二三発お見舞もうしたら、ずいぶん痛快だろうねえ。くるくるまわって、それからどたっと倒れるだろうねえ。」
“Cái vùng núi này thật chẳng ra làm sao. Chim chả thấy, thú chả có lấy một con. Con gì cũng được, chỉ muốn mau mau được làm một phát ‘đoàng đoàng’ cho đã tay.” — “Mà tỉa cho hai ba phát vào cái sườn vàng vàng của con hươu chẳng hạn thì sướng phải biết nhỉ. Chắc nó sẽ quay mòng mòng mấy vòng rồi đổ vật xuống nhỉ.”
それはだいぶの山奥でした。案内してきた専門の鉄砲打ちも、ちょっとまごついて、どこかへ行ってしまったくらいの山奥でした。それに、あんまり山が物凄いので、その白熊のような犬が、二疋いっしょにめまいを起こして、しばらく吠って、それから泡を吐いて死んでしまいました。
Đó là chốn núi rất sâu — sâu đến mức tay thợ săn chuyên nghiệp dẫn đường cũng lớ ngớ thế nào mà lạc đi đâu mất. Hơn nữa, núi rừng âm u dễ sợ quá, đến nỗi hai con chó như gấu trắng kia cùng lúc lăn ra chóng mặt, gầm gừ một hồi, rồi sùi bọt mép chết thẳng cẳng.
「じつにぼくは、二千四百円の損害だ」と一人の紳士が、その犬の眼ぶたを、ちょっとかえしてみて言いました。「ぼくは二千八百円の損害だ。」と、もひとりが、くやしそうに、あたまをまげて言いました。
“Thế là mình thiệt đứt hai nghìn bốn trăm yên,” một quý ông nói, tay lật thử mí mắt con chó lên xem. “Còn tôi thiệt hai nghìn tám trăm yên,” người kia nghẹo đầu, tiếc của ra mặt.
はじめの紳士は、すこし顔いろを悪くして、じっと、もひとりの紳士の、顔つきを見ながら云いました。「ぼくはもう戻ろうとおもう。」「さあ、ぼくもちょうど寒くはなったし腹は空いてきたし戻ろうとおもう。」「そいじゃ、これで切りあげよう。なあに戻りに、昨日の宿屋で、山鳥を拾円も買って帰ればいい。」「兎もでていたねえ。そうすれば結局おんなじこった。では帰ろうじゃないか」
Quý ông thứ nhất hơi tái mặt, nhìn chằm chằm sắc mặt người kia mà rằng: “Tôi tính quay về thôi.” — “Ừ, tôi cũng vừa thấy lạnh, bụng lại đói, cũng muốn về rồi.” — “Vậy hôm nay nghỉ tay ở đây. Lúc về ghé nhà trọ hôm qua mua chục yên gà rừng mang về là xong ấy mà.” — “Ở đó có bán cả thỏ nữa đấy. Thế thì rốt cuộc cũng như đi săn được thôi. Nào, về chứ nhỉ.”
ところがどうも困ったことは、どっちへ行けば戻れるのか、いっこうに見当がつかなくなっていました。風がどうと吹いてきて、草はざわざわ、木の葉はかさかさ、木はごとんごとんと鳴りました。「どうも腹が空いた。さっきから横っ腹が痛くてたまらないんだ。」「ぼくもそうだ。もうあんまりあるきたくないな。」「あるきたくないよ。ああ困ったなあ、何かたべたいなあ。」「喰べたいもんだなあ」二人の紳士は、ざわざわ鳴るすすきの中で、こんなことを云いました。
Khổ nỗi, đi hướng nào mới về được thì hai vị hoàn toàn mất phương hướng. Gió ào ào thổi tới, cỏ xào xạc, lá khô loạt soạt, cây cối kẽo kẹt rít lên. “Đói quá đi mất. Nãy giờ xót hết cả ruột đây này.” — “Tôi cũng thế. Chẳng muốn lê bước thêm nữa.” — “Tôi cũng chẳng muốn đi nữa. Chao ôi khổ quá, thèm ăn cái gì quá.” — “Thèm ăn thật đấy.” Hai quý ông đứng giữa đám cỏ lau xào xạc mà than thở như thế.
その時ふとうしろを見ますと、立派な一軒の西洋造りの家がありました。そして玄関には
RESTAURANT
西洋料理店
WILDCAT HOUSE
山猫軒
という札がでていました。
Đúng lúc ấy, chợt ngoảnh lại thì thấy một ngôi nhà kiểu Tây lộng lẫy. Trước cửa treo tấm biển: RESTAURANT — Nhà hàng Tây — WILDCAT HOUSE — Sơn Miêu Hiên (quán Mèo Rừng).
「君、ちょうどいい。ここはこれでなかなか開けてるんだ。入ろうじゃないか」「おや、こんなとこにおかしいね。しかしとにかく何か食事ができるんだろう」「もちろんできるさ。看板にそう書いてあるじゃないか」「はいろうじゃないか。ぼくはもう何か喰べたくて倒れそうなんだ。」
“Này cậu, vừa khéo quá. Hóa ra chỗ này cũng văn minh ra phết. Vào chứ nhỉ?” — “Ơ hay, chỗ thế này mà có nhà hàng, lạ nhỉ. Nhưng dù sao chắc cũng kiếm được cái gì ăn.” — “Có chứ sao không. Biển đề rành rành kia kìa.” — “Vào thôi. Tôi đói sắp quỵ đến nơi rồi đây.”
二人は玄関に立ちました。玄関は白い瀬戸の煉瓦で組んで、実に立派なもんです。そして硝子の開き戸がたって、そこに金文字でこう書いてありました。「どなたもどうかお入りください。決してご遠慮はありません」
Hai người đứng trước cửa. Sảnh cửa xây bằng gạch sứ trắng, sang trọng hết mực. Cánh cửa kính mở hai bên, trên đề dòng chữ vàng: “Kính mời quý khách cứ tự nhiên vào. Tuyệt đối không phải khách sáo.”
二人はそこで、ひどくよろこんで言いました。「こいつはどうだ、やっぱり世の中はうまくできてるねえ、きょう一日なんぎしたけれど、こんどはこんないいこともある。このうちは料理店だけれどもただでご馳走するんだぜ。」「どうもそうらしい。決してご遠慮はありませんというのはその意味だ。」
Hai người mừng quýnh: “Cậu thấy chưa, đời quả là được sắp đặt khéo thật. Cả ngày nay cực khổ, nhưng giờ lại gặp chuyện tốt thế này. Nhà này là nhà hàng nhưng đãi ăn miễn phí đấy nhé.” — “Có vẻ đúng thế thật. ‘Tuyệt đối không phải khách sáo’ nghĩa là thế còn gì.”
二人は戸を押して、なかへ入りました。そこはすぐ廊下になっていました。その硝子戸の裏側には、金文字でこうなっていました。「ことに肥ったお方や若いお方は、大歓迎いたします」二人は大歓迎というので、もう大よろこびです。「君、ぼくらは大歓迎にあたっているのだ。」「ぼくらは両方兼ねてるから」
Hai người đẩy cửa bước vào. Bên trong là một hành lang dài. Mặt sau cánh cửa kính lại có dòng chữ vàng: “Đặc biệt nhiệt liệt hoan nghênh quý khách béo tốt và quý khách trẻ tuổi.” Nghe “nhiệt liệt hoan nghênh”, hai người càng khoái chí tợn. “Này cậu, chúng ta thuộc diện được nhiệt liệt hoan nghênh đấy.” — “Vì ta hội đủ cả hai tiêu chuẩn mà.”
ずんずん廊下を進んで行きますと、こんどは水いろのペンキ塗りの扉がありました。「どうも変な家だ。どうしてこんなにたくさん戸があるのだろう。」「これはロシア式だ。寒いとこや山の中はみんなこうさ。」そして二人はその扉をあけようとしますと、上に黄いろな字でこう書いてありました。「当軒は注文の多い料理店ですからどうかそこはご承知ください」「なかなかはやってるんだ。こんな山の中で。」「それあそうだ。見たまえ、東京の大きな料理屋だって大通りにはすくないだろう」
Đi thẳng theo hành lang, lại gặp một cánh cửa sơn màu xanh nhạt. “Cái nhà này lạ thật. Sao lắm cửa thế không biết.” — “Kiểu Nga đấy. Xứ lạnh với vùng núi đâu chẳng thế.” Hai người vừa định mở cửa thì thấy phía trên có dòng chữ vàng: “Bổn quán là nhà hàng có rất nhiều yêu cầu, mong quý khách lượng thứ trước cho.” — “Đắt khách ra phết nhỉ, giữa chốn núi non này.” — “Thì hẳn rồi. Cậu xem, nhà hàng lớn ở Tokyo cũng có mấy cái nằm mặt phố lớn đâu.”
二人は云いながら、その扉をあけました。するとその裏側に、「注文はずいぶん多いでしょうがどうか一々こらえて下さい。」「これはぜんたいどういうんだ。」ひとりの紳士は顔をしかめました。「うん、これはきっと注文があまり多くて支度が手間取るけれどもごめん下さいと斯ういうことだ。」「そうだろう。早くどこか室の中にはいりたいもんだな。」「そしてテーブルに座りたいもんだな。」
Hai người vừa nói vừa mở cửa. Mặt sau cửa lại đề: “Yêu cầu chắc chắn sẽ rất nhiều, mong quý khách chịu khó theo từng cái một.” — “Cái này rốt cuộc là ý gì đây?” một quý ông nhăn mặt. — “Ừm, chắc ý là: khách đặt món nhiều quá nên chuẩn bị hơi lâu, mong thông cảm — thế thôi.” — “Chắc thế. Muốn mau mau vào được một căn phòng nào quá.” — “Rồi được ngồi vào bàn nữa chứ.”
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 紳士 | しんし | quý ông |
| 鉄砲 | てっぽう | súng |
| 山奥 | やまおく | chốn núi sâu |
| 損害 | そんがい | thiệt hại |
| 見当がつかない | けんとうがつかない | không đoán nổi, mất phương hướng |
| 遠慮 | えんりょ | khách sáo, ngại ngần |
| ご馳走する | ごちそうする | thết đãi |
| 注文 | ちゅうもん | yêu cầu; gọi món |
| 承知 | しょうち | biết cho, chấp thuận |
ところがどうもうるさいことは、また扉が一つありました。そしてそのわきに鏡がかかって、その下には長い柄のついたブラシが置いてあったのです。扉には赤い字で、「お客さまがた、ここで髪をきちんとして、それからはきものの泥を落してください。」と書いてありました。「これはどうも尤もだ。僕もさっき玄関で、山のなかだとおもって見くびったんだよ」「作法の厳しい家だ。きっとよほど偉い人たちが、たびたび来るんだ。」
Nhưng phiền một nỗi, lại thêm một cánh cửa nữa. Cạnh cửa treo tấm gương, dưới gương đặt sẵn chiếc bàn chải cán dài. Cửa đề chữ đỏ: “Kính mời quý khách chải đầu tóc chỉnh tề và phủi sạch bùn ở giày dép tại đây.” — “Cái này thì chí phải. Ban nãy ở cửa, tôi cứ tưởng giữa rừng núi mà xem thường quá.” — “Nhà này phép tắc nghiêm cẩn thật. Chắc toàn nhân vật tai to mặt lớn hay lui tới.”
そこで二人は、きれいに髪をけずって、靴の泥を落しました。そしたら、どうです。ブラシを板の上に置くや否や、そいつがぼうっとかすんで無くなって、風がどうっと室の中に入ってきました。二人はびっくりして、互によりそって、扉をがたんと開けて、次の室へ入って行きました。早く何か暖いものでもたべて、元気をつけて置かないと、もう途方もないことになってしまうと、二人とも思ったのでした。
Thế là hai người chải tóc gọn gàng, phủi sạch bùn giày. Nhưng lạ chưa kìa: vừa đặt bàn chải xuống tấm ván, nó liền mờ nhòe đi rồi biến mất, và một luồng gió ào vào trong phòng. Hai người hoảng hồn, nép sát vào nhau, đẩy cửa đánh rầm, bước sang phòng kế tiếp. Cả hai cùng nghĩ: phải mau ăn chút gì nong nóng lấy lại sức, không thì e sẽ xảy ra chuyện chẳng lành.
扉の内側に、また変なことが書いてありました。「鉄砲と弾丸をここへ置いてください。」見るとすぐ横に黒い台がありました。「なるほど、鉄砲を持ってものを食うという法はない。」「いや、よほど偉いひとが始終来ているんだ。」二人は鉄砲をはずし、帯皮を解いて、それを台の上に置きました。
Mặt trong cánh cửa lại viết một điều kỳ quặc: “Xin để súng và đạn tại đây.” Nhìn sang bên cạnh quả có chiếc kệ đen. “Cũng phải, chẳng có phép tắc nào cho vác súng vào bàn ăn cả.” — “Đấy, đủ biết toàn bậc quyền quý lui tới thường xuyên.” Hai người tháo súng, cởi dây da, đặt cả lên kệ.
また黒い扉がありました。「どうか帽子と外套と靴をおとり下さい。」「どうだ、とるか。」「仕方ない、とろう。たしかによっぽどえらいひとなんだ。奥に来ているのは」二人は帽子とオーバーコートを釘にかけ、靴をぬいでぺたぺたあるいて扉の中にはいりました。
Lại một cánh cửa đen nữa: “Xin quý khách bỏ mũ, áo khoác và giày.” — “Sao, bỏ không?” — “Đành vậy, bỏ thôi. Nhân vật đang ngồi trong kia chắc chắn phải ghê gớm lắm.” Hai người treo mũ và áo măng tô lên đinh, cởi giày, chân trần lẹp bẹp bước qua cửa.
扉の裏側には、「ネクタイピン、カフスボタン、眼鏡、財布、その他金物類、ことに尖ったものは、みんなここに置いてください」と書いてありました。扉のすぐ横には黒塗りの立派な金庫も、ちゃんと口を開けて置いてありました。鍵まで添えてあったのです。「ははあ、何かの料理に電気をつかうと見えるね。金気のものはあぶない。ことに尖ったものはあぶないと斯う云うんだろう。」「そうだろう。して見ると勘定は帰りにここで払うのだろうか。」「どうもそうらしい。」「そうだ。きっと。」二人はめがねをはずしたり、カフスボタンをとったり、みんな金庫のなかに入れて、ぱちんと錠をかけました。
Mặt sau cửa viết: “Kẹp cà vạt, khuy măng sét, kính, ví tiền và các đồ kim loại — nhất là đồ nhọn — xin để hết tại đây.” Ngay cạnh cửa có chiếc két sắt sơn đen sang trọng, mở sẵn nắp chờ, kèm theo cả chìa khóa hẳn hoi. “À ha, xem chừng món nào đó nấu bằng điện đây mà. Đồ kim loại thì nguy hiểm, nhất là đồ nhọn — chắc ý là thế.” — “Chắc vậy. Vậy suy ra tiền ăn chắc lúc về sẽ thanh toán tại đây nhỉ.” — “Có vẻ thế thật.” — “Ừ, chắc chắn rồi.” Hai người tháo kính, tháo khuy măng sét, bỏ tất vào két sắt, khóa đánh tách.
すこし行きますとまた扉があって、その前に硝子の壺が一つありました。扉には斯う書いてありました。「壺のなかのクリームを顔や手足にすっかり塗ってください。」みるとたしかに壺のなかのものは牛乳のクリームでした。「クリームをぬれというのはどういうんだ。」「これはね、外がひじょうに寒いだろう。室のなかがあんまり暖いとひびがきれるから、その予防なんだ。どうも奥には、よほどえらいひとがきている。こんなとこで、案外ぼくらは、貴族とちかづきになるかも知れないよ。」二人は壺のクリームを、顔に塗って手に塗ってそれから靴下をぬいで足に塗りました。それでもまだ残っていましたから、それは二人ともめいめいこっそり顔へ塗るふりをしながら喰べました。
Đi thêm chút nữa lại có một cánh cửa, trước cửa đặt một hũ thủy tinh. Cửa đề: “Xin bôi kem trong hũ thật kỹ lên mặt và tay chân.” Nhìn vào thì quả là kem sữa bò thật. “Bảo bôi kem là ý làm sao?” — “À, là thế này: ngoài trời lạnh cóng đúng không? Trong phòng mà ấm quá thì da sẽ nứt nẻ, nên đây là để phòng trước đấy. Trong kia chắc chắn có nhân vật cực kỳ quyền quý. Ở chỗ thế này, khéo khi mình lại được làm quen với giới quý tộc cũng nên.” Hai người bôi kem lên mặt, bôi lên tay, rồi cởi tất bôi cả lên chân. Vẫn còn thừa, thế là cả hai đều giả vờ bôi mặt mà lén lút… ăn vụng chỗ kem còn lại.
それから大急ぎで扉をあけますと、その裏側には、「クリームをよく塗りましたか、耳にもよく塗りましたか、」と書いてあって、ちいさなクリームの壺がここにも置いてありました。「そうそう、ぼくは耳には塗らなかった。あぶなく耳にひびを切らすとこだった。ここの主人はじつに用意周到だね。」「ああ、細かいとこまでよく気がつくよ。ところでぼくは早く何か喰べたいんだが、どうも斯うどこまでも廊下じゃ仕方ないね。」
Rồi hai người hối hả mở cửa — mặt sau cửa đề: “Đã bôi kem kỹ chưa? Tai đã bôi kỹ chưa?” và ở đây cũng đặt sẵn một hũ kem nhỏ. “À phải nhỉ, tai thì mình chưa bôi. Suýt nữa thì nứt nẻ hết tai. Ông chủ ở đây chu đáo thật đấy.” — “Ừ, để ý đến từng li từng tí. Mà này, tôi muốn ăn cái gì ngay bây giờ đây, cứ hành lang dài mãi thế này thì chịu sao nổi.”
するとすぐその前に次の戸がありました。「料理はもうすぐできます。十五分とお待たせはいたしません。すぐたべられます。早くあなたの頭に瓶の中の香水をよく振りかけてください。」そして戸の前には金ピカの香水の瓶が置いてありました。二人はその香水を、頭へぱちゃぱちゃ振りかけました。ところがその香水は、どうも酢のような匂がするのでした。「この香水はへんに酢くさい。どうしたんだろう。」「まちがえたんだ。下女が風邪でも引いてまちがえて入れたんだ。」
Ngay trước mặt liền có cánh cửa kế tiếp: “Món ăn sắp xong rồi. Không để quý khách đợi quá mười lăm phút. Ăn được ngay thôi. Mau rưới thật kỹ nước hoa trong chai lên đầu quý khách.” Trước cửa đặt một chai nước hoa mạ vàng lấp lánh. Hai người rưới nước hoa lên đầu lộp bộp. Nhưng thứ nước hoa ấy lại có mùi… như giấm. “Chai nước hoa này chua lòm kỳ cục. Sao thế nhỉ?” — “Nhầm đấy mà. Con hầu chắc bị cảm cúm nên rót nhầm chai thôi.”
二人は扉をあけて中にはいりました。扉の裏側には、大きな字で斯う書いてありました。「いろいろ注文が多くてうるさかったでしょう。お気の毒でした。もうこれだけです。どうかからだ中に、壺の中の塩をたくさんよくもみ込んでください。」なるほど立派な青い瀬戸の塩壺は置いてありましたが、こんどというこんどは二人ともぎょっとしてお互にクリームをたくさん塗った顔を見合せました。「どうもおかしいぜ。」「ぼくもおかしいとおもう。」「沢山の注文というのは、向うがこっちへ注文してるんだよ。」「だからさ、西洋料理店というのは、ぼくの考えるところでは、西洋料理を、来た人にたべさせるのではなくて、来た人を西洋料理にして、食べてやる家とこういうことなんだ。これは、その、つ、つ、つ、つまり、ぼ、ぼ、ぼくらが……。」がたがたがたがた、ふるえだしてもうものが言えませんでした。「その、ぼ、ぼくらが、……うわあ。」がたがたがたがたふるえだして、もうものが言えませんでした。
Hai người mở cửa bước vào. Mặt sau cửa viết chữ thật to: “Chắc quý khách phát mệt vì lắm yêu cầu quá nhỉ. Thật áy náy. Chỉ còn một điều cuối: xin xát thật nhiều muối trong hũ lên khắp người cho kỹ.” Quả nhiên có đặt sẵn một hũ muối sứ xanh sang trọng — nhưng lần này thì cả hai đều lạnh toát sống lưng, đưa cặp mặt bôi đầy kem nhìn nhau. “Có gì đó sai sai rồi đấy.” — “Tôi cũng thấy sai sai.” — “‘Rất nhiều yêu cầu’ tức là… bên kia đang yêu cầu, đặt món chúng ta đấy!” — “Tức là, cái gọi là nhà hàng Tây này, theo tôi hiểu, không phải là nơi cho khách đến ăn món Tây, mà là nơi biến khách đến thành món Tây rồi… ăn thịt. Tức là, cái, cái đó, t-t-tức là, ch-ch-chúng ta…” Cầm cập cầm cập, run đến mức không thốt nổi thành lời nữa. “Cái đó, ch-chúng ta… hu oaaa!” Người kia cũng run cầm cập, chẳng nói nổi câu nào.
「遁げ……。」がたがたしながら一人の紳士はうしろの戸を押そうとしましたが、どうです、戸はもう一分も動きませんでした。奥の方にはまだ一枚扉があって、大きなかぎ穴が二つつき、銀いろのホークとナイフの形が切りだしてあって、「いや、わざわざご苦労です。大へん結構にできました。さあさあおなかにおはいりください。」と書いてありました。おまけにかぎ穴からはきょろきょろ二つの青い眼玉がこっちをのぞいています。「うわあ。」がたがたがたがた。「うわあ。」がたがたがたがた。ふたりは泣き出しました。
“Chạy…!” Một quý ông run bần bật cố đẩy cánh cửa sau lưng — nhưng ôi thôi, cửa không nhúc nhích lấy một phân. Phía trong còn một cánh cửa nữa, có hai lỗ khóa to tướng, chạm khắc hình dao và nĩa màu bạc, đề rằng: “Chà, quý khách vất vả quá. Chuẩn bị thế là hết sức hoàn hảo rồi. Nào nào, mời vào trong bụng cho.” Chưa hết, từ hai lỗ khóa, hai con mắt xanh lè đang láo liên nhòm ra phía này. “Hu oaaa!” — run cầm cập. “Hu oaaa!” — run cầm cập. Hai người òa khóc.
すると戸の中では、こそこそこんなことを云っています。「だめだよ。もう気がついたよ。塩をもみこまないようだよ。」「あたりまえさ。親分の書きようがまずいんだ。あすこへ、いろいろ注文が多くてうるさかったでしょう、お気の毒でしたなんて、間抜けたことを書いたもんだ。」「どっちでもいいよ。どうせぼくらには、骨も分けて呉れやしないんだ。」「それはそうだ。けれどももしここへあいつらがはいって来なかったら、それはぼくらの責任だぜ。」
Trong cửa vọng ra tiếng thì thầm: “Hỏng rồi. Chúng nó phát hiện ra rồi. Có vẻ không chịu xát muối đâu.” — “Thì đương nhiên. Tại lão đại viết dở ẹc. Ai đời lại viết ngớ ngẩn ‘chắc quý khách phát mệt vì lắm yêu cầu quá, thật áy náy’ vào đấy chứ.” — “Sao cũng được. Đằng nào bọn mình cũng chẳng được chia đến cả cục xương.” — “Đúng thế thật. Nhưng nếu chúng nó không chịu vào đây thì lại là trách nhiệm của bọn mình đấy.”
「呼ぼうか、呼ぼう。おい、お客さん方、早くいらっしゃい。いらっしゃい。いらっしゃい。お皿も洗ってありますし、菜っ葉ももうよく塩でもんで置きました。あとはあなたがたと、菜っ葉をうまくとりあわせて、まっ白なお皿にのせるだけです。はやくいらっしゃい。」「へい、いらっしゃい、いらっしゃい。それともサラドはお嫌いですか。そんならこれから火を起してフライにしてあげましょうか。とにかくはやくいらっしゃい。」
“Gọi chúng nó nhé? Gọi thôi. — Này quý khách ơi, mau vào đi nào. Mời vào! Mời vào! Đĩa đã rửa sạch, rau cải cũng xát muối kỹ cả rồi. Giờ chỉ còn việc bày quý vị với rau cải cho thật khéo lên chiếc đĩa trắng tinh nữa thôi. Mau vào đi!” — “Ê này, mời vào, mời vào! Hay quý vị không thích xa lát? Vậy để chúng tôi nhóm lửa làm món chiên nhé? Tóm lại mau vào cho!”
二人はあんまり心を痛めたために、顔がまるでくしゃくしゃの紙屑のようになり、お互にその顔を見合せ、ぶるぶるふるえ、声もなく泣きました。中ではふっふっとわらってまた叫んでいます。「いらっしゃい、いらっしゃい。そんなに泣いては折角のクリームが流れるじゃありませんか。へい、ただいま。じきもってまいります。さあ、早くいらっしゃい。」「早くいらっしゃい。親方がもうナフキンをかけて、ナイフをもって、舌なめずりして、お客さま方を待っていられます。」二人は泣いて泣いて泣いて泣いて泣きました。
Hai người đau tim đến độ mặt mũi nhàu nhĩ như tờ giấy vụn vò nát, nhìn nhau run lẩy bẩy, khóc không ra tiếng. Bên trong lại khúc khích cười rồi gào tiếp: “Mời vào, mời vào! Khóc thế thì trôi hết lớp kem quý hóa còn gì. Vâng ạ, có ngay đây, sắp bưng lên ngay đây ạ. Nào, mau vào đi!” — “Mau vào đi! Ông chủ đã quàng khăn ăn, cầm sẵn dao, đang liếm mép chờ quý khách rồi kia kìa.” Hai người khóc, khóc, khóc, khóc mãi không thôi.
そのときうしろからいきなり、「わん、わん、ぐゎあ。」という声がして、あの白熊のような犬が二疋、扉をつきやぶって室の中に飛び込んできました。鍵穴の眼玉はたちまちなくなり、犬どもはううとうなってしばらく室の中をくるくる廻っていましたが、また一声「わん。」と高く吠えて、いきなり次の扉に飛びつきました。戸はがたりとひらき、犬どもは吸い込まれるように飛んで行きました。その扉の向うのまっくらやみのなかで、「にゃあお、くゎあ、ごろごろ。」という声がして、それからがさがさ鳴りました。室はけむりのように消え、二人は寒さにぶるぶるふるえて、草の中に立っていました。
Đúng lúc ấy, đột nhiên sau lưng vang lên “Gâu! Gâu! Grào!” — hai con chó như gấu trắng kia phá tung cánh cửa, lao vào phòng. Hai con mắt ở lỗ khóa lập tức biến mất. Lũ chó gầm gừ “ư ử”, chạy vòng quanh phòng một hồi, rồi lại “Gâu!” một tiếng vang trời, bất thình lình chồm vào cánh cửa trong. Cửa bật mở đánh sầm, lũ chó lao vút vào như bị hút. Trong màn đêm đen kịt sau cánh cửa vọng ra tiếng “Ngoao! Grào! Grừ grừ…”, rồi tiếng sột soạt. Căn phòng tan biến như làn khói — hai người thấy mình đang đứng giữa đám cỏ, run cầm cập vì rét.
見ると、上着や靴や財布やネクタイピンは、あっちの枝にぶらさがったり、こっちの根もとにちらばったりしています。風がどうと吹いてきて、草はざわざわ、木の葉はかさかさ、木はごとんごとんと鳴りました。犬がふうとうなって戻ってきました。そしてうしろからは、「旦那あ、旦那あ、」と叫ぶものがあります。二人は俄かに元気がついて「おおい、おおい、ここだぞ、早く来い。」と叫びました。簔帽子をかぶった専門の猟師が、草をざわざわ分けてやってきました。そこで二人はやっと安心しました。
Nhìn quanh: áo khoác, giày, ví, kẹp cà vạt — cái treo lủng lẳng trên cành đằng kia, cái vương vãi dưới gốc cây đằng này. Gió lại ào ào thổi, cỏ xào xạc, lá khô loạt soạt, cây cối kẽo kẹt. Hai con chó phì phò quay về. Rồi sau lưng có tiếng gọi: “Các ông ơi! Các ông ơi!” Hai người bỗng hoàn hồn hẳn, gào lên: “Ơi! Ơi! Đây! Bọn tôi ở đây, mau lại đây!” Người thợ săn chuyên nghiệp đội nón lá rẽ đám cỏ xào xạc bước đến. Bấy giờ hai người mới thật sự hoàn hồn.
そして猟師のもってきた団子をたべ、途中で十円だけ山鳥を買って東京に帰りました。しかし、さっき一ぺん紙くずのようになった二人の顔だけは、東京に帰っても、お湯にはいっても、もうもとのとおりになおりませんでした。
Rồi hai người ăn bánh dango người thợ săn mang theo, dọc đường mua mười yên gà rừng, trở về Tokyo. Có điều, riêng hai khuôn mặt đã một lần nhàu nhĩ như giấy vụn ấy, thì dù về đến Tokyo, dù ngâm mình trong bồn nước nóng, cũng không bao giờ trở lại như xưa được nữa.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 用意周到 | よういしゅうとう | chuẩn bị chu đáo |
| 香水 | こうすい | nước hoa |
| 酢 | す | giấm |
| お気の毒 | おきのどく | đáng thương, áy náy thay |
| 金庫 | きんこ | két sắt |
| 勘定 | かんじょう | tiền thanh toán |
| 逃げる | にげる | bỏ chạy |
| 舌なめずり | したなめずり | liếm mép (thèm thuồng) |
| 猟師 | りょうし | thợ săn |
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「注文の多い料理店」新潮文庫、新潮社。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.
📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.
Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.





Gửi phản hồi