トロッコ — Chiếc goòng

Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.


芥川龍之介 (Akutagawa Ryūnosuke) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng

小田原おだわら熱海あたみかんに、軽便鉄道けいべんてつどう敷設ふせつ工事こうじはじまったのは、良平りょうへいやっつのとしだった。良平りょうへい毎日まいにち村外むらはずれへ、その工事こうじ見物けんぶつった。工事こうじを――といったところが、ただトロッコでつち運搬うんぱんする――それが面白おもしろさにったのである。

Công trình đặt đường sắt khổ hẹp nối Odawara với Atami khởi công vào năm Ryōhei lên tám. Ngày nào Ryōhei cũng ra rìa làng xem công trình. Nói là xem công trình — kỳ thực chỉ là xem người ta chở đất bằng xe goòng — nhưng chính cái đó mới thú, nên cậu mới đi xem.

トロッコのうえには土工どこう二人ふたりつちんだうしろたたずんでいる。トロッコはやまくだるのだから、人手ひとでりずにはしってる。あおるように車台しゃだいうごいたり、土工どこう袢天はんてんすそがひらついたり、ほそ線路せんろがしなったり――良平りょうへいはそんなけしきをながめながら、土工どこうになりたいとおもことがある。せめては一度いちどでも土工どこういっしょに、トロッコへりたいとおもこともある。トロッコは村外むらはずれの平地へいちると、自然しぜん其処そこまってしまう。と同時どうじ土工どこうたちは、身軽みがるにトロッコをりるがはやいか、その線路せんろ終点しゅうてんくるまつちをぶちまける。それから今度こんどはトロッコをし、もとやまほうのぼはじめる。良平りょうへいはそのときれないまでも、ことさえ出来できたらとおもうのである。

Trên goòng có hai người phu đất đứng đằng sau đống đất vừa chất. Goòng đổ dốc xuống núi nên tự chạy băng băng, chẳng cần ai đẩy. Thùng xe lắc lư như chực hất tung, vạt áo khoác của phu đất phần phật bay, đường ray mảnh khảnh oằn xuống — Ryōhei ngắm những cảnh ấy mà có lúc mơ được làm phu đất. Có lúc lại chỉ mong dù một lần thôi được ngồi goòng cùng họ. Goòng chạy tới bãi đất bằng ở rìa làng thì tự khắc dừng lại. Cùng lúc đó, đám phu đất vừa nhẹ nhàng nhảy phắt khỏi xe là hất tung chỗ đất trên goòng xuống điểm cuối đường ray. Rồi họ lại vừa đẩy vừa ì ạch đưa goòng ngược lên phía núi cũ. Ryōhei nghĩ: lúc ấy, dẫu không được ngồi, giá được đẩy thôi cũng sướng.

ある夕方ゆうがた、――それは二月にがつ初旬しょじゅんだった。良平りょうへいふたしたおとうとや、おとうとおなとしとなり子供こどもと、トロッコのいてある村外むらはずれへった。トロッコはどろだらけになったまま、薄明うすあかるいなかならんでいる。が、そのほか何処どこても、土工どこうたちの姿すがたえなかった。三人さんにん子供こどもおそおそる、一番端いちばんはしにあるトロッコをした。トロッコは三人さんにんちからそろうと、突然とつぜんごろりと車輪しゃりんをまわした。良平りょうへいはこのおとにひやりとした。しかし二度目にどめ車輪しゃりんおとは、もうかれおどろかさなかった。ごろり、ごろり、――トロッコはそうおとともに、三人さんにんされながら、そろそろ線路せんろのぼってった。

Một buổi chiều nọ — bấy giờ là đầu tháng hai. Ryōhei cùng cậu em kém hai tuổi và đứa trẻ hàng xóm bằng tuổi em, ra chỗ để goòng ở rìa làng. Những chiếc goòng lấm lem bùn đất nằm xếp hàng trong ánh chiều nhập nhoạng. Nhưng nhìn quanh chẳng thấy bóng dáng người phu đất nào. Ba đứa trẻ rón rén đẩy chiếc goòng nằm ngoài cùng. Khi sức ba đứa hợp lại, chiếc goòng bỗng “kìn kịt” lăn bánh. Tiếng động ấy làm Ryōhei giật thót. Nhưng tiếng bánh xe lần thứ hai thì không còn làm cậu sợ nữa. Kìn kịt, kìn kịt — chiếc goòng theo tiếng động đó, dưới tay ba đứa trẻ đẩy, từ từ leo ngược đường ray.

そのうちにかれこれ十間じっけんほどると、線路せんろ勾配こうばいきゅうになりした。トロッコも三人さんにんちからでは、いくらしてもうごかなくなった。どうかすればくるまいっしょに、もどされそうにもなることがある。良平りょうへいはもういとおもったから、年下としした二人ふたり合図あいずをした。「さあ、ろう!」

Đi được chừng mười gian thì đường ray bắt đầu dốc gắt. Sức ba đứa trẻ đẩy thế nào goòng cũng không nhúc nhích nữa. Có lúc suýt nữa còn bị cả chiếc xe đẩy lùi trở lại. Ryōhei thấy thế là đủ rồi, bèn ra hiệu cho hai đứa nhỏ: “Nào, lên xe!”

彼等かれら一度いちどをはなすと、トロッコのうえった。トロッコは最初さいしょおもむろに、それからいきおいよく、一息ひといき線路せんろくだした。その途端とたんにつきあたりの風景ふうけいは、たちま両側りょうがわかれるように、ずんずんまえ展開てんかいしてる。かおあた薄暮はくぼかぜあししたおどるトロッコの動揺どうよう、――良平りょうへいほとん有頂天うちょうてんになった。しかしトロッコは二三分にさんぷんのち、もうもとの終点しゅうてんまっていた。

Ba đứa cùng lúc buông tay, nhảy phắt lên goòng. Chiếc goòng thoạt tiên từ từ, rồi mỗi lúc một hăng, lao một mạch xuống dốc đường ray. Ngay khoảnh khắc ấy, cảnh vật trước mặt như bị rẽ toạc sang hai bên, ào ào mở ra trước mắt. Làn gió chạng vạng táp vào mặt, thân goòng nhồi lên nhún xuống dưới chân — Ryōhei gần như bay bổng tận mây xanh. Nhưng chỉ hai ba phút sau, chiếc goòng đã dừng lại ở điểm cuối cũ.

「さあ、もう一度いちどすじゃあ」良平りょうへい年下としした二人ふたりいっしょに、またトロッコをげにかかった。が、まだ車輪しゃりんうごかないうちに、突然とつぜん彼等かれらうしろには、だれかの足音あしおときこした。のみならずそれはきこしたとおもうと、きゅうにこう怒鳴どなごえかわった。「この野郎やろう! だれことわってトロにさわった?」

“Nào, đẩy lần nữa!” Ryōhei cùng hai đứa nhỏ lại xúm vào đẩy goòng lên. Nhưng bánh xe còn chưa kịp lăn thì đột nhiên sau lưng chúng vang lên tiếng bước chân ai đó. Chưa hết, tiếng chân vừa vang lên đã lập tức biến thành tiếng quát: “Lũ ranh con! Ai cho phép chúng mày sờ vào goòng hả?”

其処そこにはふる印袢天しるしばんてんに、季節外きせつはずれの麦藁帽むぎわらぼうをかぶった、せいたか土工どこうたたずんでいる。――そう姿すがたにはいったとき良平りょうへい年下としした二人ふたりいっしょに、もう五六間ごろっけんしていた。――それぎり良平りょうへい使つかいかえりに、人気ひとけのない工事場こうじばのトロッコをても、二度にどってようとおもったことはない。ただそのとき土工どこう姿すがたは、いまでも良平りょうへいあたま何処どこかに、はっきりした記憶きおくのこしている。薄明うすあかりのなかほのめいた、ちいさい黄色きいろ麦藁帽むぎわらぼう、――しかしその記憶きおくさえも、年毎としごと色彩しきさいうすれるらしい。

Đứng đó là một người phu đất cao lớn, mặc áo khoác hiệu đã cũ, đội chiếc mũ rơm trái mùa. — Khi bóng dáng ấy vừa lọt vào mắt, Ryōhei cùng hai đứa nhỏ đã bỏ chạy được năm sáu gian rồi. — Từ đó về sau, những lần đi việc vặt về ngang, dù thấy goòng nằm ở công trường vắng người, Ryōhei cũng không bao giờ còn nghĩ đến chuyện leo lên thử nữa. Chỉ có bóng dáng người phu đất lúc ấy là đến giờ vẫn hằn một mảng ký ức rõ rệt đâu đó trong đầu Ryōhei: chiếc mũ rơm nhỏ màu vàng thấp thoáng trong ánh sáng lờ mờ. — Nhưng ngay cả mảng ký ức ấy, hình như mỗi năm màu sắc cũng một phai đi.

Từ vựng (đoạn đầu)
Từ Cách đọc Nghĩa
トロッコ xe goòng (chở đất trên ray)
工事 こうじ công trình, thi công
土工 どこう phu đất, thợ đào đắp
線路 せんろ đường ray
勾配 こうばい độ dốc
車輪 しゃりん bánh xe
有頂天 うちょうてん sướng như bay lên mây
怒鳴る どなる quát tháo
記憶 きおく ký ức

その十日余とおかあまりたってから、良平りょうへいまたたった一人ひとり午過ひるすぎの工事場こうじばたたずみながら、トロッコのるのをながめていた。するとつちんだトロッコのほかに、枕木まくらぎんだトロッコが一輛いちりょう、これは本線ほんせんになるはずの、ふと線路せんろのぼってた。このトロッコをしているのは、二人ふたりともわかおとこだった。良平りょうへい彼等かれらときから、なんだかしたしみやすいようながした。「このひとたちならばしかられない」――かれはそうおもいながら、トロッコのそばけてった。「おじさん。してやろうか?」

Hơn mười ngày sau, Ryōhei lại một mình đứng ở công trường lúc quá trưa, ngắm những chiếc goòng chạy tới. Bấy giờ, ngoài goòng chở đất còn có một chiếc goòng chở tà vẹt đang leo lên theo tuyến ray to — tuyến sau này sẽ là đường chính. Hai người đẩy chiếc goòng ấy đều là những chàng trai trẻ. Vừa nhìn thấy họ, Ryōhei đã thấy có gì đó dễ gần. “Mấy người này chắc không mắng mình đâu” — nghĩ vậy, cậu chạy lại bên goòng: “Chú ơi, cháu đẩy giúp cho nhé?”

そのなか一人ひとり、――しまのシャツをているおとこは、俯向うつむきにトロッコをしたまま、おもったとおこころよ返事へんじをした。「おお、してくよう」良平りょうへい二人ふたりあいだにはいると、力一杯ちからいっぱいはじめた。「われは中中なかなかちからがあるな」ほか一人ひとり、――みみ巻煙草まきたばこはさんだおとこも、こう良平りょうへいめてくれた。

Một trong hai người — anh chàng mặc áo sơ mi kẻ sọc — vẫn cúi đầu đẩy goòng, đáp lại vui vẻ đúng như cậu mong: “Ờ, đẩy đi!” Ryōhei chen vào giữa hai người, ra sức đẩy hết mình. “Thằng nhóc khỏe ra phết nhỉ,” người kia — anh chàng giắt điếu thuốc cuốn trên vành tai — cũng khen cậu như thế.

そのうち線路せんろ勾配こうばいは、だんだんらくになりはじめた。「もうさなくともい」――良平りょうへいいまにもわれるかと内心ないしんがかりでならなかった。が、わか二人ふたり土工どこうは、まえよりもこしおこしたぎり、黙黙もくもくくるまつづけていた。良平りょうへいはとうとうこらえれずに、ずこんなことたずねてた。「何時いつまでもしていてい?」「いとも」二人ふたり同時どうじ返事へんじをした。良平りょうへいは「やさしいひとたちだ」とおもった。

Chẳng bao lâu, độ dốc của đường ray thoải dần. “Thôi không cần đẩy nữa đâu” — Ryōhei nơm nớp trong bụng, chỉ sợ người ta nói câu ấy bất cứ lúc nào. Nhưng hai người phu trẻ chỉ đứng thẳng lưng hơn trước một chút, vẫn lầm lũi đẩy xe. Cuối cùng Ryōhei không nhịn được nữa, rụt rè đánh bạo hỏi: “Cháu đẩy mãi cũng được ạ?” — “Được chứ!” — hai người đáp cùng một lúc. Ryōhei nghĩ bụng: “Toàn người tốt cả.”

五六町ごろくちょうあまつづけたら、線路せんろはもう一度いちど急勾配きゅうこうばいになった。其処そこには両側りょうがわ蜜柑畑みかんばたけに、黄色きいろがいくつもけている。「のぼみちほうい、何時いつまでもさせてくれるから」――良平りょうへいはそんなことかんがえながら、全身ぜんしんでトロッコをすようにした。

Đẩy thêm hơn năm sáu chō nữa, đường ray lại dốc gắt lên. Hai bên là vườn quýt, những quả vàng ươm hứng nắng lúc lỉu. “Đường lên dốc thích hơn, vì được đẩy mãi” — Ryōhei vừa nghĩ thế vừa lấy cả toàn thân mà đẩy goòng.

蜜柑畑みかんばたけあいだのぼりつめると、きゅう線路せんろくだりになった。しまのシャツをているおとこは、良平りょうへいに「やい、れ」とった。良平りょうへいすぐった。トロッコは三人さんにんうつると同時どうじに、蜜柑畑みかんばたけにおいあおりながら、ひたすべりに線路せんろはしした。「すよりもほうがずっとい」――良平りょうへい羽織はおりかぜはらませながら、あたまえことかんがえた。「きにところおおければ、かえりにまたところおおい」――そうもまたかんがえたりした。

Leo hết đoạn dốc giữa hai vườn quýt, đường ray đột ngột đổ xuống. Anh chàng áo kẻ sọc bảo Ryōhei: “Ê, lên xe!” Ryōhei nhảy tót lên ngay. Ba người vừa yên chỗ, chiếc goòng vừa cuốn theo mùi thơm vườn quýt, vừa trượt băng băng trên đường ray. “Được ngồi còn sướng gấp mấy lần đẩy” — Ryōhei để gió lùa căng vạt áo khoác, nghĩ một điều hiển nhiên như thế. “Lượt đi đẩy nhiều bao nhiêu thì lượt về được ngồi nhiều bấy nhiêu” — cậu còn nghĩ được cả thế nữa.

竹藪たけやぶのあるところると、トロッコはしずかにはしるのをめた。三人さんにんまたまえのように、おもいトロッコをはじめた。竹藪たけやぶ何時いつ雑木林ぞうきばやしになった。爪先上つまさきあがりの所所ところどころには、赤錆あかさび線路せんろえないほど落葉おちばのたまっている場所ばしょもあった。そのみちをやっとのぼったら、今度こんどたかがけむこうに、広広ひろびろうすさむうみひらけた。と同時どうじ良平りょうへいあたまには、あまとお来過きすぎたことが、きゅうにはっきりとかんじられた。

Đến chỗ có rặng tre, chiếc goòng lặng lẽ dừng chạy. Ba người lại bắt đầu đẩy chiếc goòng nặng nề như lúc trước. Rặng tre lúc nào không hay đã đổi thành rừng cây tạp. Có những quãng lên dốc thoai thoải, lá rụng phủ dày đến mức chẳng còn thấy cả đường ray hoen gỉ. Cuối cùng leo hết đoạn đường ấy, thì bên kia vách đá cao, một vùng biển lạnh lẽo mênh mông mở ra. Và cùng lúc đó, trong đầu Ryōhei chợt hiện lên rõ rệt một điều: mình đã đi quá xa mất rồi.

三人さんにんまたトロッコへった。くるまうみみぎにしながら、雑木ぞうきえだしたはしってった。しかし良平りょうへいはさっきのように、面白おもしろもちにはなれなかった。「もうかえってくれればい」――かれはそうもねんじてた。が、ところまできつかなければ、トロッコも彼等かれらかえれないことは、勿論もちろんかれにもわかりっていた。

Ba người lại lên goòng. Chiếc xe chạy dưới những tán cây tạp, biển ở phía bên phải. Nhưng Ryōhei không còn thấy vui thích như ban nãy nữa. “Giá mà họ quay về ngay cho” — cậu thầm khấn cả như thế. Nhưng dĩ nhiên cậu cũng thừa hiểu rằng, chưa đi đến nơi cần đến thì cả goòng lẫn hai người phu đều chưa thể quay về.

そのつぎくるままったのは、切崩きりくずしたやま背負せおっている、藁屋根わらやね茶店ちゃみせまえだった。二人ふたり土工どこうはそのみせへはいると、乳呑児ちのみごをおぶったかみさんを相手あいてに、悠悠ゆうゆうちゃなどをはじめた。良平りょうへいひとりいらいらしながら、トロッコのまわりをまわってた。トロッコには頑丈がんじょう車台しゃだいいたに、ねかえったどろかわいていた。

Lần dừng tiếp theo là trước một quán nước mái rạ, dựa lưng vào quả núi đã bị xẻ dở. Hai người phu vào quán, thong dong ngồi uống trà, chuyện trò với bà chủ đang địu đứa con còn bú. Ryōhei một mình bồn chồn, đi vòng quanh chiếc goòng ngó nghiêng. Trên tấm ván thùng xe chắc nịch, bùn bắn lên đã khô cong.

少時しばらくのち茶店ちゃみせしなに、巻煙草まきたばこみみはさんだおとこは、(そのときはもうはさんでいなかったが)トロッコのそばにいる良平りょうへい新聞紙しんぶんしつつんだ駄菓子だがしをくれた。良平りょうへい冷淡れいたんに「難有ありがとう」とった。が、じき冷淡れいたんにしては、相手あいてにすまないとおもなおした。かれはその冷淡れいたんさをつくろうように、つつ菓子がしひとつをくちれた。菓子かしには新聞紙しんぶんしにあったらしい、石油せきゆにおいがしみついていた。

Lát sau, lúc từ quán bước ra, anh chàng từng giắt thuốc trên tai (bấy giờ điếu thuốc không còn ở đó nữa) đưa cho Ryōhei đang đứng cạnh goòng một gói kẹo rẻ tiền bọc giấy báo. Ryōhei hờ hững đáp “cảm ơn ạ”. Nhưng ngay sau đó cậu nghĩ lại: hờ hững thế thì có lỗi với người ta quá. Như để chữa cho sự hờ hững ấy, cậu bỏ một chiếc kẹo trong gói vào miệng. Chiếc kẹo ám mùi dầu hỏa, chắc là hơi từ tờ giấy báo.

三人さんにんはトロッコをしながらゆる傾斜けいしゃのぼってった。良平りょうへいくるまをかけていても、こころほかことかんがえていた。そのさかむこうへくだると、またおなじような茶店ちゃみせがあった。土工どこうたちがそのなかへはいったあと良平りょうへいはトロッコにこしをかけながら、かえことばかりにしていた。茶店ちゃみせまえにははなのさいたうめに、西日にしびひかりえかかっている。「もうれる」――かれはそうかんがえると、ぼんやりこしかけてもいられなかった。トロッコの車輪しゃりんってたり、一人ひとりではうごかないのを承知しょうちしながらうんうんそれをしてたり、――そんなこともちをまぎらせていた。

Ba người lại đẩy goòng leo lên con dốc thoai thoải. Ryōhei tay vẫn vịn xe mà lòng dạ để tận đâu đâu. Xuống hết con dốc bên kia lại có một quán nước y như trước. Trong lúc hai người phu vào quán, Ryōhei ngồi ghé lên goòng, đầu óc chỉ canh cánh mỗi chuyện về nhà. Trước quán, ánh nắng chiều tà đang lụi dần trên cây mơ nở hoa. “Trời sắp tối rồi” — nghĩ đến đó, cậu không tài nào ngồi thẫn thờ được nữa. Cậu đá thử vào bánh goòng, biết thừa một mình chẳng đẩy nổi mà vẫn hì hụi đẩy thử — cứ lấy những trò ấy để khuây khỏa.

ところが土工どこうたちはると、くるまうえ枕木まくらぎをかけながら、無造作むぞうさかれにこうった。「われはもうかえんな。おれたちは今日きょうむこどまりだから」「あんまりかえりがおそくなるとわれのうちでも心配しんぱいするずら」

Nhưng hai người phu bước ra, tay vịn lên đống tà vẹt trên xe, buông một câu tỉnh queo: “Nhóc về đi thôi. Hôm nay bọn tao ngủ lại bên kia.” — “Về muộn quá thì nhà mày cũng lo đấy.”

良平りょうへい一瞬間いっしゅんかん呆気あっけにとられた。もうかれこれくらくなること去年きょねんくれはは岩村いわむらまでたが、今日きょうみちはその三四倍さんしばいあること、それをいまからたった一人ひとりあるいてかえらなければならないこと、――そうこと一時いちどきにわかったのである。良平りょうへいほとんきそうになった。が、いても仕方しかたがないとおもった。いている場合ばあいではないともおもった。かれわか二人ふたり土工どこうに、ってけたような御時宜おじぎをすると、どんどん線路伝せんろづたいにはしした。

Ryōhei sững người mất một thoáng. Trời thì đã sắp tối; cuối năm ngoái cậu từng cùng mẹ đi đến tận Iwamura, nhưng quãng đường hôm nay dài gấp ba bốn lần thế; và quãng đường ấy, giờ đây cậu phải cuốc bộ về một thân một mình — tất cả những điều đó cùng lúc vỡ ra trong đầu cậu. Ryōhei suýt òa khóc. Nhưng cậu nghĩ khóc cũng chẳng ích gì. Cũng chẳng phải lúc để khóc. Cậu khẽ cúi chào hai người phu trẻ lấy lệ, rồi ba chân bốn cẳng chạy men theo đường ray.

良平りょうへい少時しばらく無我夢中むがむちゅう線路せんろそばはしつづけた。そのうちふところ菓子包かしづつみが、邪魔じゃまになることがついたから、それを路側みちばたほう次手ついでに、板草履いたぞうり其処そこててしまった。するとうす足袋たびうらへじかに小石こいしいこんだが、あしだけははるかにかるくなった。かれひだりうみかんじながら、きゅう坂路さかみちのぼった。時時ときどきなみだがこみげてると、自然しぜんかおゆがんでる。――それは無理むり我慢がまんしても、はなだけはえずくうくうった。

Ryōhei cắm đầu chạy men đường ray một hồi, quên cả trời đất. Được một lúc thì thấy gói kẹo trong bụng áo vướng víu, cậu ném nó ra vệ đường, tiện thể cởi luôn đôi guốc gỗ vứt đấy. Sỏi đá lập tức xuyên qua lớp tất mỏng ghim vào gan bàn chân, nhưng bù lại chân nhẹ hẳn đi. Cậu chạy ngược con dốc gắt, cảm nhận biển ở phía bên trái. Thỉnh thoảng nước mắt trào lên là mặt cậu tự nhiên méo xệch. — Cố nén cách mấy thì cái mũi vẫn cứ khụt khịt không thôi.

竹藪たけやぶそばけると、夕焼ゆうやけのした日金山ひがねやまそらも、もう火照ほてりがえかかっていた。良平りょうへいは、いよいよでなかった。きとかえりとかわるせいか、景色けしきちがうのも不安ふあんだった。すると今度こんど着物きものまでも、あせとおったのがになったから、やはり必死ひっしつづけたなり、羽織はおり路側みちばたいでてた。

Chạy băng qua rặng tre, thì cả ráng chiều trên đỉnh Higane cũng đã lụi dần. Ryōhei càng lúc càng cuống ruột. Có lẽ vì lượt đi lượt về khác nhau, cảnh vật trông cũng lạ hoắc, càng thêm bất an. Rồi đến chiếc áo dài thấm đẫm mồ hôi cũng làm cậu khó chịu; cậu vẫn liều mạng chạy tiếp, và cởi luôn chiếc áo khoác vứt lại bên vệ đường.

蜜柑畑みかんばたけころには、あたりはくらくなる一方いっぽうだった。「いのちさえたすかれば――」良平りょうへいはそうおもいながら、すべってもつまずいてもはしってった。やっととお夕闇ゆうやみなかに、村外むらはずれの工事場こうじばえたとき良平りょうへい一思ひとおもいにきたくなった。しかしそのときもべそはかいたが、とうとうかずにつづけた。

Đến quãng vườn quýt thì trời cứ mỗi lúc một tối sầm. “Chỉ cần giữ được cái mạng—” Ryōhei vừa nghĩ vậy vừa chạy, trượt ngã cũng chạy, vấp cũng chạy. Khi rốt cuộc trông thấy công trường rìa làng hiện ra trong bóng chiều nhá nhem xa xa, Ryōhei chỉ muốn khóc òa một trận cho xong. Nhưng cả lúc ấy, dù mặt đã mếu xệch, cậu vẫn nhất quyết không khóc mà chạy tiếp.

かれむらへはいってると、もう両側りょうがわ家家いえいえには、電燈でんとうひかりがさしっていた。良平りょうへいはその電燈でんとうひかりに、あたまからあせ湯気ゆげつのが、彼自身かれじしんにもはっきりわかった。井戸端いどばたみずんでいる女衆おんなしゅうや、はたけからかえって男衆おとこしゅうは、良平りょうへいあえあえはしるのをては、「おいどうしたね?」などとこえをかけた。が、かれ無言むごんのまま、雑貨屋ざっかやだの床屋とこやだの、あかるいいえまえはしぎた。

Vào tới làng, nhà cửa hai bên đường đã sáng ánh đèn điện đan vào nhau. Dưới ánh đèn ấy, chính Ryōhei cũng thấy rõ hơi mồ hôi bốc lên nghi ngút từ đầu mình. Mấy người đàn bà kín nước bên giếng, mấy người đàn ông từ ruộng về, thấy Ryōhei vừa chạy vừa thở hồng hộc thì cất tiếng: “Ơ kìa, sao thế cháu?” Nhưng cậu cứ lặng thinh, chạy vụt qua trước những ngôi nhà sáng đèn — nào hàng tạp hóa, nào hiệu cắt tóc.

かれいえ門口かどぐちけこんだとき良平りょうへいはとうとう大声おおごえに、わっとさずにはいられなかった。そのごえかれ周囲まわりへ、一時いちどきちちははあつまらせた。ことははなんとかいながら、良平りょうへいからだかかえるようにした。が、良平りょうへい手足てあしをもがきながら、すすすすつづけた。そのこえあまはげしかったせいか、近所きんじょ女衆おんなしゅう三四人さんよにん薄暗うすぐら門口かどぐちあつまってた。父母ふぼ勿論もちろんそのひとたちは、口口くちぐちかれわけたずねた。しかしかれなんわれてもてるよりほか仕方しかたがなかった。あのとおみちとおしてた、いままでの心細こころぼそさをふりかえると、いくら大声おおごえつづけても、りないもちにせまられながら、…………

Khi lao được vào cổng nhà mình, Ryōhei rốt cuộc không kìm nổi nữa, “òa” lên khóc thật to. Tiếng khóc ấy lập tức kéo cả cha lẫn mẹ xúm quanh cậu. Nhất là mẹ, vừa nói gì đó vừa ôm chầm lấy người Ryōhei. Nhưng Ryōhei cứ giãy giụa chân tay, nức nở, nức nở khóc mãi. Có lẽ vì tiếng khóc dữ quá, ba bốn người đàn bà hàng xóm cũng kéo đến trước cổng nhập nhoạng tối. Cha mẹ và cả những người ấy tíu tít hỏi vì sao cậu khóc. Nhưng ai nói gì mặc, cậu chẳng biết làm gì hơn ngoài gào khóc. Cứ nghĩ lại nỗi hoang mang tủi cực suốt quãng đường xa vừa chạy về, thì có gào to đến mấy cũng vẫn thấy chưa đủ, chưa vơi…

良平りょうへい二十六にじゅうろくとし妻子さいしいっしょに東京とうきょうた。いまではある雑誌社ざっしゃ二階にかいに、校正こうせい朱筆しゅひつにぎっている。が、かれはどうかすると、全然ぜんぜんなん理由りゆうもないのに、そのときかれおもことがある。全然ぜんぜんなん理由りゆうもないのに?――塵労じんろうつかれたかれまえにはいまでもやはりそのときのように、薄暗うすぐらやぶさかのあるみちが、細細ほそぼそひとすじ断続だんぞくしている。…………

Năm hai mươi sáu tuổi, Ryōhei đưa vợ con lên Tokyo. Giờ đây anh cầm cây bút son sửa bản in trên tầng hai một tòa soạn tạp chí. Nhưng thỉnh thoảng, chẳng vì bất cứ lý do gì, anh lại nhớ đến mình của ngày hôm ấy. Chẳng vì bất cứ lý do gì ư? — Trước mắt con người đã mỏi mòn vì bụi bặm mưu sinh ấy, đến tận bây giờ, vẫn hệt như ngày hôm đó, một con đường mảnh mai đứt nối chạy dài — con đường có những rặng cây tối mờ và những con dốc…

Từ vựng (đoạn sau)
Từ Cách đọc Nghĩa
枕木 まくらぎ tà vẹt (thanh ngang đường ray)
内心 ないしん trong bụng, thâm tâm
おずおず rụt rè, sợ sệt
呆気にとられる あっけにとられる sững người, chết lặng
無我夢中 むがむちゅう quên hết trời đất, mải miết
気が気でない きがきでない đứng ngồi không yên
喘ぐ あえぐ thở hổn hển
啜り上げる すすりあげる khóc nức nở, sụt sịt
心細い こころぼそい trơ trọi, bất an
Nguồn văn bản gốc: 芥川龍之介「トロッコ」(1922) — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「蜘蛛の糸・杜子春」新潮文庫、新潮社。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.

📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.

Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.

Gửi phản hồi

Trending

Khám phá thêm từ Học tập hiệu quả, thành công dễ dàng.

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc