トロッコ — Chiếc goòng

Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.


芥川龍之介 (Akutagawa Ryūnosuke) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng

小田原おだわら熱海あたみ間かんに、軽便鉄道けいべんてつどう敷設ふせつの工事こうじが始はじまったのは、良平りょうへいの八やっつの年としだった。良平りょうへいは毎日まいにち村外むらはずれへ、その工事こうじを見物けんぶつに行いった。工事こうじを――といったところが、唯ただトロッコで土つちを運搬うんぱんする――それが面白おもしろさに見みに行いったのである。

Công trình đặt đường sắt khổ hẹp nối Odawara với Atami khởi công vào năm Ryōhei lên tám. Ngày nào Ryōhei cũng ra rìa làng xem công trình. Nói là xem công trình — kỳ thực chỉ là xem người ta chở đất bằng xe goòng — nhưng chính cái đó mới thú, nên cậu mới đi xem.

トロッコの上うえには土工どこうが二人ふたり、土つちを積つんだ後うしろに佇たたずんでいる。トロッコは山やまを下くだるのだから、人手ひとでを借かりずに走はしって来くる。煽あおるように車台しゃだいが動うごいたり、土工どこうの袢天はんてんの裾すそがひらついたり、細ほそい線路せんろがしなったり――良平りょうへいはそんなけしきを眺ながめながら、土工どこうになりたいと思おもう事ことがある。せめては一度いちどでも土工どこうと一いっしょに、トロッコへ乗のりたいと思おもう事こともある。トロッコは村外むらはずれの平地へいちへ来くると、自然しぜんと其処そこに止とまってしまう。と同時どうじに土工どこうたちは、身軽みがるにトロッコを飛とび降おりるが早はやいか、その線路せんろの終点しゅうてんへ車くるまの土つちをぶちまける。それから今度こんどはトロッコを押おし押おし、もと来きた山やまの方ほうへ登のぼり始はじめる。良平りょうへいはその時とき乗のれないまでも、押おす事ことさえ出来できたらと思おもうのである。

Trên goòng có hai người phu đất đứng đằng sau đống đất vừa chất. Goòng đổ dốc xuống núi nên tự chạy băng băng, chẳng cần ai đẩy. Thùng xe lắc lư như chực hất tung, vạt áo khoác của phu đất phần phật bay, đường ray mảnh khảnh oằn xuống — Ryōhei ngắm những cảnh ấy mà có lúc mơ được làm phu đất. Có lúc lại chỉ mong dù một lần thôi được ngồi goòng cùng họ. Goòng chạy tới bãi đất bằng ở rìa làng thì tự khắc dừng lại. Cùng lúc đó, đám phu đất vừa nhẹ nhàng nhảy phắt khỏi xe là hất tung chỗ đất trên goòng xuống điểm cuối đường ray. Rồi họ lại vừa đẩy vừa ì ạch đưa goòng ngược lên phía núi cũ. Ryōhei nghĩ: lúc ấy, dẫu không được ngồi, giá được đẩy thôi cũng sướng.

或ある夕方ゆうがた、――それは二月にがつの初旬しょじゅんだった。良平りょうへいは二ふたつ下したの弟おとうとや、弟おとうとと同おなじ年としの隣となりの子供こどもと、トロッコの置おいてある村外むらはずれへ行いった。トロッコは泥どろだらけになったまま、薄明うすあかるい中なかに並ならんでいる。が、その外ほかは何処どこを見みても、土工どこうたちの姿すがたは見みえなかった。三人さんにんの子供こどもは恐おそる恐おそる、一番端いちばんはしにあるトロッコを押おした。トロッコは三人さんにんの力ちからが揃そろうと、突然とつぜんごろりと車輪しゃりんをまわした。良平りょうへいはこの音おとにひやりとした。しかし二度目にどめの車輪しゃりんの音おとは、もう彼かれを驚おどろかさなかった。ごろり、ごろり、――トロッコはそう云いう音おとと共ともに、三人さんにんの手てに押おされながら、そろそろ線路せんろを登のぼって行いった。

Một buổi chiều nọ — bấy giờ là đầu tháng hai. Ryōhei cùng cậu em kém hai tuổi và đứa trẻ hàng xóm bằng tuổi em, ra chỗ để goòng ở rìa làng. Những chiếc goòng lấm lem bùn đất nằm xếp hàng trong ánh chiều nhập nhoạng. Nhưng nhìn quanh chẳng thấy bóng dáng người phu đất nào. Ba đứa trẻ rón rén đẩy chiếc goòng nằm ngoài cùng. Khi sức ba đứa hợp lại, chiếc goòng bỗng “kìn kịt” lăn bánh. Tiếng động ấy làm Ryōhei giật thót. Nhưng tiếng bánh xe lần thứ hai thì không còn làm cậu sợ nữa. Kìn kịt, kìn kịt — chiếc goòng theo tiếng động đó, dưới tay ba đứa trẻ đẩy, từ từ leo ngược đường ray.

その内うちにかれこれ十間じっけん程ほど来くると、線路せんろの勾配こうばいが急きゅうになり出だした。トロッコも三人さんにんの力ちからでは、いくら押おしても動うごかなくなった。どうかすれば車くるまと一いっしょに、押おし戻もどされそうにもなる事ことがある。良平りょうへいはもう好いいと思おもったから、年下とししたの二人ふたりに合図あいずをした。「さあ、乗のろう!」

Đi được chừng mười gian thì đường ray bắt đầu dốc gắt. Sức ba đứa trẻ đẩy thế nào goòng cũng không nhúc nhích nữa. Có lúc suýt nữa còn bị cả chiếc xe đẩy lùi trở lại. Ryōhei thấy thế là đủ rồi, bèn ra hiệu cho hai đứa nhỏ: “Nào, lên xe!”

彼等かれらは一度いちどに手てをはなすと、トロッコの上うえへ飛とび乗のった。トロッコは最初さいしょ徐おもむろに、それから見みる見みる勢いきおいよく、一息ひといきに線路せんろを下くだり出だした。その途端とたんにつき当あたりの風景ふうけいは、忽たちまち両側りょうがわへ分わかれるように、ずんずん目めの前まえへ展開てんかいして来くる。顔かおに当あたる薄暮はくぼの風かぜ、足あしの下したに躍おどるトロッコの動揺どうよう、――良平りょうへいは殆ほとんど有頂天うちょうてんになった。しかしトロッコは二三分にさんぷんの後のち、もうもとの終点しゅうてんに止とまっていた。

Ba đứa cùng lúc buông tay, nhảy phắt lên goòng. Chiếc goòng thoạt tiên từ từ, rồi mỗi lúc một hăng, lao một mạch xuống dốc đường ray. Ngay khoảnh khắc ấy, cảnh vật trước mặt như bị rẽ toạc sang hai bên, ào ào mở ra trước mắt. Làn gió chạng vạng táp vào mặt, thân goòng nhồi lên nhún xuống dưới chân — Ryōhei gần như bay bổng tận mây xanh. Nhưng chỉ hai ba phút sau, chiếc goòng đã dừng lại ở điểm cuối cũ.

「さあ、もう一度いちど押おすじゃあ」良平りょうへいは年下とししたの二人ふたりと一いっしょに、又またトロッコを押おし上あげにかかった。が、まだ車輪しゃりんも動うごかない内うちに、突然とつぜん彼等かれらの後うしろには、誰だれかの足音あしおとが聞きこえ出だした。のみならずそれは聞きこえ出だしたと思おもうと、急きゅうにこう云いう怒鳴どなり声ごえに変かわった。「この野郎やろう! 誰だれに断ことわってトロに触さわった?」

“Nào, đẩy lần nữa!” Ryōhei cùng hai đứa nhỏ lại xúm vào đẩy goòng lên. Nhưng bánh xe còn chưa kịp lăn thì đột nhiên sau lưng chúng vang lên tiếng bước chân ai đó. Chưa hết, tiếng chân vừa vang lên đã lập tức biến thành tiếng quát: “Lũ ranh con! Ai cho phép chúng mày sờ vào goòng hả?”

其処そこには古ふるい印袢天しるしばんてんに、季節外きせつはずれの麦藁帽むぎわらぼうをかぶった、背せいの高たかい土工どこうが佇たたずんでいる。――そう云いう姿すがたが目めにはいった時とき、良平りょうへいは年下とししたの二人ふたりと一いっしょに、もう五六間ごろっけん逃にげ出だしていた。――それぎり良平りょうへいは使つかいの帰かえりに、人気ひとけのない工事場こうじばのトロッコを見みても、二度にどと乗のって見みようと思おもった事ことはない。唯ただその時ときの土工どこうの姿すがたは、今いまでも良平りょうへいの頭あたまの何処どこかに、はっきりした記憶きおくを残のこしている。薄明うすあかりの中なかに仄ほのめいた、小ちいさい黄色きいろの麦藁帽むぎわらぼう、――しかしその記憶きおくさえも、年毎としごとに色彩しきさいは薄うすれるらしい。

Đứng đó là một người phu đất cao lớn, mặc áo khoác hiệu đã cũ, đội chiếc mũ rơm trái mùa. — Khi bóng dáng ấy vừa lọt vào mắt, Ryōhei cùng hai đứa nhỏ đã bỏ chạy được năm sáu gian rồi. — Từ đó về sau, những lần đi việc vặt về ngang, dù thấy goòng nằm ở công trường vắng người, Ryōhei cũng không bao giờ còn nghĩ đến chuyện leo lên thử nữa. Chỉ có bóng dáng người phu đất lúc ấy là đến giờ vẫn hằn một mảng ký ức rõ rệt đâu đó trong đầu Ryōhei: chiếc mũ rơm nhỏ màu vàng thấp thoáng trong ánh sáng lờ mờ. — Nhưng ngay cả mảng ký ức ấy, hình như mỗi năm màu sắc cũng một phai đi.

Từ vựng (đoạn đầu)
Từ Cách đọc Nghĩa
トロッコ — xe goòng (chở đất trên ray)
工事 こうじ công trình, thi công
土工 どこう phu đất, thợ đào đắp
線路 せんろ đường ray
勾配 こうばい độ dốc
車輪 しゃりん bánh xe
有頂天 うちょうてん sướng như bay lên mây
怒鳴る どなる quát tháo
記憶 きおく ký ức

その後ご十日余とおかあまりたってから、良平りょうへいは又またたった一人ひとり、午過ひるすぎの工事場こうじばに佇たたずみながら、トロッコの来くるのを眺ながめていた。すると土つちを積つんだトロッコの外ほかに、枕木まくらぎを積つんだトロッコが一輛いちりょう、これは本線ほんせんになる筈はずの、太ふとい線路せんろを登のぼって来きた。このトロッコを押おしているのは、二人ふたりとも若わかい男おとこだった。良平りょうへいは彼等かれらを見みた時ときから、何なんだか親したしみ易やすいような気きがした。「この人ひとたちならば叱しかられない」――彼かれはそう思おもいながら、トロッコの側そばへ駈かけて行いった。「おじさん。押おしてやろうか?」

Hơn mười ngày sau, Ryōhei lại một mình đứng ở công trường lúc quá trưa, ngắm những chiếc goòng chạy tới. Bấy giờ, ngoài goòng chở đất còn có một chiếc goòng chở tà vẹt đang leo lên theo tuyến ray to — tuyến sau này sẽ là đường chính. Hai người đẩy chiếc goòng ấy đều là những chàng trai trẻ. Vừa nhìn thấy họ, Ryōhei đã thấy có gì đó dễ gần. “Mấy người này chắc không mắng mình đâu” — nghĩ vậy, cậu chạy lại bên goòng: “Chú ơi, cháu đẩy giúp cho nhé?”

その中なかの一人ひとり、――縞しまのシャツを着きている男おとこは、俯向うつむきにトロッコを押おしたまま、思おもった通とおり快こころよい返事へんじをした。「おお、押おしてくよう」良平りょうへいは二人ふたりの間あいだにはいると、力一杯ちからいっぱい押おし始はじめた。「われは中中なかなか力ちからがあるな」他ほかの一人ひとり、――耳みみに巻煙草まきたばこを挟はさんだ男おとこも、こう良平りょうへいを褒ほめてくれた。

Một trong hai người — anh chàng mặc áo sơ mi kẻ sọc — vẫn cúi đầu đẩy goòng, đáp lại vui vẻ đúng như cậu mong: “Ờ, đẩy đi!” Ryōhei chen vào giữa hai người, ra sức đẩy hết mình. “Thằng nhóc khỏe ra phết nhỉ,” người kia — anh chàng giắt điếu thuốc cuốn trên vành tai — cũng khen cậu như thế.

その内うちに線路せんろの勾配こうばいは、だんだん楽らくになり始はじめた。「もう押おさなくとも好いい」――良平りょうへいは今いまにも云いわれるかと内心ないしん気きがかりでならなかった。が、若わかい二人ふたりの土工どこうは、前まえよりも腰こしを起おこしたぎり、黙黙もくもくと車くるまを押おし続つづけていた。良平りょうへいはとうとうこらえ切きれずに、怯おず怯おずこんな事ことを尋たずねて見みた。「何時いつまでも押おしていて好いい?」「好いいとも」二人ふたりは同時どうじに返事へんじをした。良平りょうへいは「優やさしい人ひとたちだ」と思おもった。

Chẳng bao lâu, độ dốc của đường ray thoải dần. “Thôi không cần đẩy nữa đâu” — Ryōhei nơm nớp trong bụng, chỉ sợ người ta nói câu ấy bất cứ lúc nào. Nhưng hai người phu trẻ chỉ đứng thẳng lưng hơn trước một chút, vẫn lầm lũi đẩy xe. Cuối cùng Ryōhei không nhịn được nữa, rụt rè đánh bạo hỏi: “Cháu đẩy mãi cũng được ạ?” — “Được chứ!” — hai người đáp cùng một lúc. Ryōhei nghĩ bụng: “Toàn người tốt cả.”

五六町ごろくちょう余あまり押おし続つづけたら、線路せんろはもう一度いちど急勾配きゅうこうばいになった。其処そこには両側りょうがわの蜜柑畑みかんばたけに、黄色きいろい実みがいくつも日ひを受うけている。「登のぼり路みちの方ほうが好いい、何時いつまでも押おさせてくれるから」――良平りょうへいはそんな事ことを考かんがえながら、全身ぜんしんでトロッコを押おすようにした。

Đẩy thêm hơn năm sáu chō nữa, đường ray lại dốc gắt lên. Hai bên là vườn quýt, những quả vàng ươm hứng nắng lúc lỉu. “Đường lên dốc thích hơn, vì được đẩy mãi” — Ryōhei vừa nghĩ thế vừa lấy cả toàn thân mà đẩy goòng.

蜜柑畑みかんばたけの間あいだを登のぼりつめると、急きゅうに線路せんろは下くだりになった。縞しまのシャツを着きている男おとこは、良平りょうへいに「やい、乗のれ」と云いった。良平りょうへいは直すぐに飛とび乗のった。トロッコは三人さんにんが乗のり移うつると同時どうじに、蜜柑畑みかんばたけの匂においを煽あおりながら、ひた辷すべりに線路せんろを走はしり出だした。「押おすよりも乗のる方ほうがずっと好いい」――良平りょうへいは羽織はおりに風かぜを孕はらませながら、当あたり前まえの事ことを考かんがえた。「行ゆきに押おす所ところが多おおければ、帰かえりに又また乗のる所ところが多おおい」――そうもまた考かんがえたりした。

Leo hết đoạn dốc giữa hai vườn quýt, đường ray đột ngột đổ xuống. Anh chàng áo kẻ sọc bảo Ryōhei: “Ê, lên xe!” Ryōhei nhảy tót lên ngay. Ba người vừa yên chỗ, chiếc goòng vừa cuốn theo mùi thơm vườn quýt, vừa trượt băng băng trên đường ray. “Được ngồi còn sướng gấp mấy lần đẩy” — Ryōhei để gió lùa căng vạt áo khoác, nghĩ một điều hiển nhiên như thế. “Lượt đi đẩy nhiều bao nhiêu thì lượt về được ngồi nhiều bấy nhiêu” — cậu còn nghĩ được cả thế nữa.

竹藪たけやぶのある所ところへ来くると、トロッコは静しずかに走はしるのを止やめた。三人さんにんは又また前まえのように、重おもいトロッコを押おし始はじめた。竹藪たけやぶは何時いつか雑木林ぞうきばやしになった。爪先上つまさきあがりの所所ところどころには、赤錆あかさびの線路せんろも見みえない程ほど、落葉おちばのたまっている場所ばしょもあった。その路みちをやっと登のぼり切きったら、今度こんどは高たかい崖がけの向むこうに、広広ひろびろと薄うすら寒さむい海うみが開ひらけた。と同時どうじに良平りょうへいの頭あたまには、余あまり遠とおく来過きすぎた事ことが、急きゅうにはっきりと感かんじられた。

Đến chỗ có rặng tre, chiếc goòng lặng lẽ dừng chạy. Ba người lại bắt đầu đẩy chiếc goòng nặng nề như lúc trước. Rặng tre lúc nào không hay đã đổi thành rừng cây tạp. Có những quãng lên dốc thoai thoải, lá rụng phủ dày đến mức chẳng còn thấy cả đường ray hoen gỉ. Cuối cùng leo hết đoạn đường ấy, thì bên kia vách đá cao, một vùng biển lạnh lẽo mênh mông mở ra. Và cùng lúc đó, trong đầu Ryōhei chợt hiện lên rõ rệt một điều: mình đã đi quá xa mất rồi.

三人さんにんは又またトロッコへ乗のった。車くるまは海うみを右みぎにしながら、雑木ぞうきの枝えだの下したを走はしって行いった。しかし良平りょうへいはさっきのように、面白おもしろい気きもちにはなれなかった。「もう帰かえってくれれば好いい」――彼かれはそうも念ねんじて見みた。が、行いく所ところまで行いきつかなければ、トロッコも彼等かれらも帰かえれない事ことは、勿論もちろん彼かれにもわかり切きっていた。

Ba người lại lên goòng. Chiếc xe chạy dưới những tán cây tạp, biển ở phía bên phải. Nhưng Ryōhei không còn thấy vui thích như ban nãy nữa. “Giá mà họ quay về ngay cho” — cậu thầm khấn cả như thế. Nhưng dĩ nhiên cậu cũng thừa hiểu rằng, chưa đi đến nơi cần đến thì cả goòng lẫn hai người phu đều chưa thể quay về.

その次つぎに車くるまの止とまったのは、切崩きりくずした山やまを背負せおっている、藁屋根わらやねの茶店ちゃみせの前まえだった。二人ふたりの土工どこうはその店みせへはいると、乳呑児ちのみごをおぶった上かみさんを相手あいてに、悠悠ゆうゆうと茶ちゃなどを飲のみ始はじめた。良平りょうへいは独ひとりいらいらしながら、トロッコのまわりをまわって見みた。トロッコには頑丈がんじょうな車台しゃだいの板いたに、跳はねかえった泥どろが乾かわいていた。

Lần dừng tiếp theo là trước một quán nước mái rạ, dựa lưng vào quả núi đã bị xẻ dở. Hai người phu vào quán, thong dong ngồi uống trà, chuyện trò với bà chủ đang địu đứa con còn bú. Ryōhei một mình bồn chồn, đi vòng quanh chiếc goòng ngó nghiêng. Trên tấm ván thùng xe chắc nịch, bùn bắn lên đã khô cong.

少時しばらくの後のち茶店ちゃみせを出でて来きしなに、巻煙草まきたばこを耳みみに挟はさんだ男おとこは、(その時ときはもう挟はさんでいなかったが)トロッコの側そばにいる良平りょうへいに新聞紙しんぶんしに包つつんだ駄菓子だがしをくれた。良平りょうへいは冷淡れいたんに「難有ありがとう」と云いった。が、直じきに冷淡れいたんにしては、相手あいてにすまないと思おもい直なおした。彼かれはその冷淡れいたんさを取とり繕つくろうように、包つつみ菓子がしの一ひとつを口くちへ入いれた。菓子かしには新聞紙しんぶんしにあったらしい、石油せきゆの匂においがしみついていた。

Lát sau, lúc từ quán bước ra, anh chàng từng giắt thuốc trên tai (bấy giờ điếu thuốc không còn ở đó nữa) đưa cho Ryōhei đang đứng cạnh goòng một gói kẹo rẻ tiền bọc giấy báo. Ryōhei hờ hững đáp “cảm ơn ạ”. Nhưng ngay sau đó cậu nghĩ lại: hờ hững thế thì có lỗi với người ta quá. Như để chữa cho sự hờ hững ấy, cậu bỏ một chiếc kẹo trong gói vào miệng. Chiếc kẹo ám mùi dầu hỏa, chắc là hơi từ tờ giấy báo.

三人さんにんはトロッコを押おしながら緩ゆるい傾斜けいしゃを登のぼって行いった。良平りょうへいは車くるまに手てをかけていても、心こころは外ほかの事ことを考かんがえていた。その坂さかを向むこうへ下くだり切きると、又また同おなじような茶店ちゃみせがあった。土工どこうたちがその中なかへはいった後あと、良平りょうへいはトロッコに腰こしをかけながら、帰かえる事ことばかり気きにしていた。茶店ちゃみせの前まえには花はなのさいた梅うめに、西日にしびの光ひかりが消きえかかっている。「もう日ひが暮くれる」――彼かれはそう考かんがえると、ぼんやり腰こしかけてもいられなかった。トロッコの車輪しゃりんを蹴けって見みたり、一人ひとりでは動うごかないのを承知しょうちしながらうんうんそれを押おして見みたり、――そんな事ことに気きもちを紛まぎらせていた。

Ba người lại đẩy goòng leo lên con dốc thoai thoải. Ryōhei tay vẫn vịn xe mà lòng dạ để tận đâu đâu. Xuống hết con dốc bên kia lại có một quán nước y như trước. Trong lúc hai người phu vào quán, Ryōhei ngồi ghé lên goòng, đầu óc chỉ canh cánh mỗi chuyện về nhà. Trước quán, ánh nắng chiều tà đang lụi dần trên cây mơ nở hoa. “Trời sắp tối rồi” — nghĩ đến đó, cậu không tài nào ngồi thẫn thờ được nữa. Cậu đá thử vào bánh goòng, biết thừa một mình chẳng đẩy nổi mà vẫn hì hụi đẩy thử — cứ lấy những trò ấy để khuây khỏa.

ところが土工どこうたちは出でて来くると、車くるまの上うえの枕木まくらぎに手てをかけながら、無造作むぞうさに彼かれにこう云いった。「われはもう帰かえんな。おれたちは今日きょうは向むこう泊どまりだから」「あんまり帰かえりが遅おそくなるとわれの家うちでも心配しんぱいするずら」

Nhưng hai người phu bước ra, tay vịn lên đống tà vẹt trên xe, buông một câu tỉnh queo: “Nhóc về đi thôi. Hôm nay bọn tao ngủ lại bên kia.” — “Về muộn quá thì nhà mày cũng lo đấy.”

良平りょうへいは一瞬間いっしゅんかん呆気あっけにとられた。もうかれこれ暗くらくなる事こと、去年きょねんの暮くれ母ははと岩村いわむらまで来きたが、今日きょうの途みちはその三四倍さんしばいある事こと、それを今いまからたった一人ひとり、歩あるいて帰かえらなければならない事こと、――そう云いう事ことが一時いちどきにわかったのである。良平りょうへいは殆ほとんど泣なきそうになった。が、泣ないても仕方しかたがないと思おもった。泣ないている場合ばあいではないとも思おもった。彼かれは若わかい二人ふたりの土工どこうに、取とって附つけたような御時宜おじぎをすると、どんどん線路伝せんろづたいに走はしり出だした。

Ryōhei sững người mất một thoáng. Trời thì đã sắp tối; cuối năm ngoái cậu từng cùng mẹ đi đến tận Iwamura, nhưng quãng đường hôm nay dài gấp ba bốn lần thế; và quãng đường ấy, giờ đây cậu phải cuốc bộ về một thân một mình — tất cả những điều đó cùng lúc vỡ ra trong đầu cậu. Ryōhei suýt òa khóc. Nhưng cậu nghĩ khóc cũng chẳng ích gì. Cũng chẳng phải lúc để khóc. Cậu khẽ cúi chào hai người phu trẻ lấy lệ, rồi ba chân bốn cẳng chạy men theo đường ray.

良平りょうへいは少時しばらく無我夢中むがむちゅうに線路せんろの側そばを走はしり続つづけた。その内うちに懐ふところの菓子包かしづつみが、邪魔じゃまになる事ことに気きがついたから、それを路側みちばたへ抛ほうり出だす次手ついでに、板草履いたぞうりも其処そこへ脱ぬぎ捨すててしまった。すると薄うすい足袋たびの裏うらへじかに小石こいしが食くいこんだが、足あしだけは遙はるかに軽かるくなった。彼かれは左ひだりに海うみを感かんじながら、急きゅうな坂路さかみちを駈かけ登のぼった。時時ときどき涙なみだがこみ上あげて来くると、自然しぜんに顔かおが歪ゆがんで来くる。――それは無理むりに我慢がまんしても、鼻はなだけは絶たえずくうくう鳴なった。

Ryōhei cắm đầu chạy men đường ray một hồi, quên cả trời đất. Được một lúc thì thấy gói kẹo trong bụng áo vướng víu, cậu ném nó ra vệ đường, tiện thể cởi luôn đôi guốc gỗ vứt đấy. Sỏi đá lập tức xuyên qua lớp tất mỏng ghim vào gan bàn chân, nhưng bù lại chân nhẹ hẳn đi. Cậu chạy ngược con dốc gắt, cảm nhận biển ở phía bên trái. Thỉnh thoảng nước mắt trào lên là mặt cậu tự nhiên méo xệch. — Cố nén cách mấy thì cái mũi vẫn cứ khụt khịt không thôi.

竹藪たけやぶの側そばを駈かけ抜ぬけると、夕焼ゆうやけのした日金山ひがねやまの空そらも、もう火照ほてりが消きえかかっていた。良平りょうへいは、愈いよいよ気きが気きでなかった。往ゆきと返かえりと変かわるせいか、景色けしきの違ちがうのも不安ふあんだった。すると今度こんどは着物きものまでも、汗あせの濡ぬれ通とおったのが気きになったから、やはり必死ひっしに駈かけ続つづけたなり、羽織はおりを路側みちばたへ脱ぬいで捨すてた。

Chạy băng qua rặng tre, thì cả ráng chiều trên đỉnh Higane cũng đã lụi dần. Ryōhei càng lúc càng cuống ruột. Có lẽ vì lượt đi lượt về khác nhau, cảnh vật trông cũng lạ hoắc, càng thêm bất an. Rồi đến chiếc áo dài thấm đẫm mồ hôi cũng làm cậu khó chịu; cậu vẫn liều mạng chạy tiếp, và cởi luôn chiếc áo khoác vứt lại bên vệ đường.

蜜柑畑みかんばたけへ来くる頃ころには、あたりは暗くらくなる一方いっぽうだった。「命いのちさえ助たすかれば――」良平りょうへいはそう思おもいながら、辷すべってもつまずいても走はしって行いった。やっと遠とおい夕闇ゆうやみの中なかに、村外むらはずれの工事場こうじばが見みえた時とき、良平りょうへいは一思ひとおもいに泣なきたくなった。しかしその時ときもべそはかいたが、とうとう泣なかずに駈かけ続つづけた。

Đến quãng vườn quýt thì trời cứ mỗi lúc một tối sầm. “Chỉ cần giữ được cái mạng—” Ryōhei vừa nghĩ vậy vừa chạy, trượt ngã cũng chạy, vấp cũng chạy. Khi rốt cuộc trông thấy công trường rìa làng hiện ra trong bóng chiều nhá nhem xa xa, Ryōhei chỉ muốn khóc òa một trận cho xong. Nhưng cả lúc ấy, dù mặt đã mếu xệch, cậu vẫn nhất quyết không khóc mà chạy tiếp.

彼かれの村むらへはいって見みると、もう両側りょうがわの家家いえいえには、電燈でんとうの光ひかりがさし合あっていた。良平りょうへいはその電燈でんとうの光ひかりに、頭あたまから汗あせの湯気ゆげの立たつのが、彼自身かれじしんにもはっきりわかった。井戸端いどばたに水みずを汲くんでいる女衆おんなしゅうや、畑はたけから帰かえって来くる男衆おとこしゅうは、良平りょうへいが喘あえぎ喘あえぎ走はしるのを見みては、「おいどうしたね?」などと声こえをかけた。が、彼かれは無言むごんのまま、雑貨屋ざっかやだの床屋とこやだの、明あかるい家いえの前まえを走はしり過すぎた。

Vào tới làng, nhà cửa hai bên đường đã sáng ánh đèn điện đan vào nhau. Dưới ánh đèn ấy, chính Ryōhei cũng thấy rõ hơi mồ hôi bốc lên nghi ngút từ đầu mình. Mấy người đàn bà kín nước bên giếng, mấy người đàn ông từ ruộng về, thấy Ryōhei vừa chạy vừa thở hồng hộc thì cất tiếng: “Ơ kìa, sao thế cháu?” Nhưng cậu cứ lặng thinh, chạy vụt qua trước những ngôi nhà sáng đèn — nào hàng tạp hóa, nào hiệu cắt tóc.

彼かれの家いえの門口かどぐちへ駈かけこんだ時とき、良平りょうへいはとうとう大声おおごえに、わっと泣なき出ださずにはいられなかった。その泣なき声ごえは彼かれの周囲まわりへ、一時いちどきに父ちちや母ははを集あつまらせた。殊ことに母ははは何なんとか云いいながら、良平りょうへいの体からだを抱かかえるようにした。が、良平りょうへいは手足てあしをもがきながら、啜すすり上あげ啜すすり上あげ泣なき続つづけた。その声こえが余あまり激はげしかったせいか、近所きんじょの女衆おんなしゅうも三四人さんよにん、薄暗うすぐらい門口かどぐちへ集あつまって来きた。父母ふぼは勿論もちろんその人ひとたちは、口口くちぐちに彼かれの泣なく訣わけを尋たずねた。しかし彼かれは何なんと云いわれても泣なき立たてるより外ほかに仕方しかたがなかった。あの遠とおい路みちを駈かけ通とおして来きた、今いままでの心細こころぼそさをふり返かえると、いくら大声おおごえに泣なき続つづけても、足たりない気きもちに迫せまられながら、…………

Khi lao được vào cổng nhà mình, Ryōhei rốt cuộc không kìm nổi nữa, “òa” lên khóc thật to. Tiếng khóc ấy lập tức kéo cả cha lẫn mẹ xúm quanh cậu. Nhất là mẹ, vừa nói gì đó vừa ôm chầm lấy người Ryōhei. Nhưng Ryōhei cứ giãy giụa chân tay, nức nở, nức nở khóc mãi. Có lẽ vì tiếng khóc dữ quá, ba bốn người đàn bà hàng xóm cũng kéo đến trước cổng nhập nhoạng tối. Cha mẹ và cả những người ấy tíu tít hỏi vì sao cậu khóc. Nhưng ai nói gì mặc, cậu chẳng biết làm gì hơn ngoài gào khóc. Cứ nghĩ lại nỗi hoang mang tủi cực suốt quãng đường xa vừa chạy về, thì có gào to đến mấy cũng vẫn thấy chưa đủ, chưa vơi…

良平りょうへいは二十六にじゅうろくの年とし、妻子さいしと一いっしょに東京とうきょうへ出でて来きた。今いまでは或ある雑誌社ざっしゃの二階にかいに、校正こうせいの朱筆しゅひつを握にぎっている。が、彼かれはどうかすると、全然ぜんぜん何なんの理由りゆうもないのに、その時ときの彼かれを思おもい出だす事ことがある。全然ぜんぜん何なんの理由りゆうもないのに?――塵労じんろうに疲つかれた彼かれの前まえには今いまでもやはりその時ときのように、薄暗うすぐらい藪やぶや坂さかのある路みちが、細細ほそぼそと一ひとすじ断続だんぞくしている。…………

Năm hai mươi sáu tuổi, Ryōhei đưa vợ con lên Tokyo. Giờ đây anh cầm cây bút son sửa bản in trên tầng hai một tòa soạn tạp chí. Nhưng thỉnh thoảng, chẳng vì bất cứ lý do gì, anh lại nhớ đến mình của ngày hôm ấy. Chẳng vì bất cứ lý do gì ư? — Trước mắt con người đã mỏi mòn vì bụi bặm mưu sinh ấy, đến tận bây giờ, vẫn hệt như ngày hôm đó, một con đường mảnh mai đứt nối chạy dài — con đường có những rặng cây tối mờ và những con dốc…

Từ vựng (đoạn sau)
Từ Cách đọc Nghĩa
枕木 まくらぎ tà vẹt (thanh ngang đường ray)
内心 ないしん trong bụng, thâm tâm
おずおず — rụt rè, sợ sệt
呆気にとられる あっけにとられる sững người, chết lặng
無我夢中 むがむちゅう quên hết trời đất, mải miết
気が気でない きがきでない đứng ngồi không yên
喘ぐ あえぐ thở hổn hển
啜り上げる すすりあげる khóc nức nở, sụt sịt
心細い こころぼそい trơ trọi, bất an
Nguồn văn bản gốc: 芥川龍之介「トロッコ」(1922) — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ bản quyền (public domain).
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「蜘蛛の糸・杜子春」新潮文庫、新潮社。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.

📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.

Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.

Để lại một bình luận

Trending

Khám phá thêm từ Học tập hiệu quả, thành công dễ dàng.

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc