Bạn đang học tiếng Nhật và muốn đọc truyện “thật” nhưng sợ tra từ mệt nghỉ? Chuyên mục Đọc song ngữ Nhật – Việt ra đời cho bạn: nguyên văn tác phẩm kinh điển Nhật Bản (đã hết bản quyền), furigana gắn trên toàn bộ kanji, bản dịch tiếng Việt đặt ngay dưới từng đoạn, và bảng từ vựng chọn lọc theo trình độ JLPT. Cứ đọc câu tiếng Nhật trước, kẹt thì liếc xuống bản dịch — không cần mở từ điển.
芥川龍之介 (Akutagawa Ryūnosuke) — Bản dịch tiếng Việt & chú thích từ vựng
小田原熱海間に、軽便鉄道敷設の工事が始まったのは、良平の八つの年だった。良平は毎日村外れへ、その工事を見物に行った。工事を――といったところが、唯トロッコで土を運搬する――それが面白さに見に行ったのである。
Công trình đặt đường sắt khổ hẹp nối Odawara với Atami khởi công vào năm Ryōhei lên tám. Ngày nào Ryōhei cũng ra rìa làng xem công trình. Nói là xem công trình — kỳ thực chỉ là xem người ta chở đất bằng xe goòng — nhưng chính cái đó mới thú, nên cậu mới đi xem.
トロッコの上には土工が二人、土を積んだ後に佇んでいる。トロッコは山を下るのだから、人手を借りずに走って来る。煽るように車台が動いたり、土工の袢天の裾がひらついたり、細い線路がしなったり――良平はそんなけしきを眺めながら、土工になりたいと思う事がある。せめては一度でも土工と一しょに、トロッコへ乗りたいと思う事もある。トロッコは村外れの平地へ来ると、自然と其処に止まってしまう。と同時に土工たちは、身軽にトロッコを飛び降りるが早いか、その線路の終点へ車の土をぶちまける。それから今度はトロッコを押し押し、もと来た山の方へ登り始める。良平はその時乗れないまでも、押す事さえ出来たらと思うのである。
Trên goòng có hai người phu đất đứng đằng sau đống đất vừa chất. Goòng đổ dốc xuống núi nên tự chạy băng băng, chẳng cần ai đẩy. Thùng xe lắc lư như chực hất tung, vạt áo khoác của phu đất phần phật bay, đường ray mảnh khảnh oằn xuống — Ryōhei ngắm những cảnh ấy mà có lúc mơ được làm phu đất. Có lúc lại chỉ mong dù một lần thôi được ngồi goòng cùng họ. Goòng chạy tới bãi đất bằng ở rìa làng thì tự khắc dừng lại. Cùng lúc đó, đám phu đất vừa nhẹ nhàng nhảy phắt khỏi xe là hất tung chỗ đất trên goòng xuống điểm cuối đường ray. Rồi họ lại vừa đẩy vừa ì ạch đưa goòng ngược lên phía núi cũ. Ryōhei nghĩ: lúc ấy, dẫu không được ngồi, giá được đẩy thôi cũng sướng.
或夕方、――それは二月の初旬だった。良平は二つ下の弟や、弟と同じ年の隣の子供と、トロッコの置いてある村外れへ行った。トロッコは泥だらけになったまま、薄明るい中に並んでいる。が、その外は何処を見ても、土工たちの姿は見えなかった。三人の子供は恐る恐る、一番端にあるトロッコを押した。トロッコは三人の力が揃うと、突然ごろりと車輪をまわした。良平はこの音にひやりとした。しかし二度目の車輪の音は、もう彼を驚かさなかった。ごろり、ごろり、――トロッコはそう云う音と共に、三人の手に押されながら、そろそろ線路を登って行った。
Một buổi chiều nọ — bấy giờ là đầu tháng hai. Ryōhei cùng cậu em kém hai tuổi và đứa trẻ hàng xóm bằng tuổi em, ra chỗ để goòng ở rìa làng. Những chiếc goòng lấm lem bùn đất nằm xếp hàng trong ánh chiều nhập nhoạng. Nhưng nhìn quanh chẳng thấy bóng dáng người phu đất nào. Ba đứa trẻ rón rén đẩy chiếc goòng nằm ngoài cùng. Khi sức ba đứa hợp lại, chiếc goòng bỗng “kìn kịt” lăn bánh. Tiếng động ấy làm Ryōhei giật thót. Nhưng tiếng bánh xe lần thứ hai thì không còn làm cậu sợ nữa. Kìn kịt, kìn kịt — chiếc goòng theo tiếng động đó, dưới tay ba đứa trẻ đẩy, từ từ leo ngược đường ray.
その内にかれこれ十間程来ると、線路の勾配が急になり出した。トロッコも三人の力では、いくら押しても動かなくなった。どうかすれば車と一しょに、押し戻されそうにもなる事がある。良平はもう好いと思ったから、年下の二人に合図をした。「さあ、乗ろう!」
Đi được chừng mười gian thì đường ray bắt đầu dốc gắt. Sức ba đứa trẻ đẩy thế nào goòng cũng không nhúc nhích nữa. Có lúc suýt nữa còn bị cả chiếc xe đẩy lùi trở lại. Ryōhei thấy thế là đủ rồi, bèn ra hiệu cho hai đứa nhỏ: “Nào, lên xe!”
彼等は一度に手をはなすと、トロッコの上へ飛び乗った。トロッコは最初徐ろに、それから見る見る勢よく、一息に線路を下り出した。その途端につき当りの風景は、忽ち両側へ分かれるように、ずんずん目の前へ展開して来る。顔に当る薄暮の風、足の下に躍るトロッコの動揺、――良平は殆ど有頂天になった。しかしトロッコは二三分の後、もうもとの終点に止まっていた。
Ba đứa cùng lúc buông tay, nhảy phắt lên goòng. Chiếc goòng thoạt tiên từ từ, rồi mỗi lúc một hăng, lao một mạch xuống dốc đường ray. Ngay khoảnh khắc ấy, cảnh vật trước mặt như bị rẽ toạc sang hai bên, ào ào mở ra trước mắt. Làn gió chạng vạng táp vào mặt, thân goòng nhồi lên nhún xuống dưới chân — Ryōhei gần như bay bổng tận mây xanh. Nhưng chỉ hai ba phút sau, chiếc goòng đã dừng lại ở điểm cuối cũ.
「さあ、もう一度押すじゃあ」良平は年下の二人と一しょに、又トロッコを押し上げにかかった。が、まだ車輪も動かない内に、突然彼等の後には、誰かの足音が聞え出した。のみならずそれは聞え出したと思うと、急にこう云う怒鳴り声に変った。「この野郎! 誰に断ってトロに触った?」
“Nào, đẩy lần nữa!” Ryōhei cùng hai đứa nhỏ lại xúm vào đẩy goòng lên. Nhưng bánh xe còn chưa kịp lăn thì đột nhiên sau lưng chúng vang lên tiếng bước chân ai đó. Chưa hết, tiếng chân vừa vang lên đã lập tức biến thành tiếng quát: “Lũ ranh con! Ai cho phép chúng mày sờ vào goòng hả?”
其処には古い印袢天に、季節外れの麦藁帽をかぶった、背の高い土工が佇んでいる。――そう云う姿が目にはいった時、良平は年下の二人と一しょに、もう五六間逃げ出していた。――それぎり良平は使の帰りに、人気のない工事場のトロッコを見ても、二度と乗って見ようと思った事はない。唯その時の土工の姿は、今でも良平の頭の何処かに、はっきりした記憶を残している。薄明りの中に仄めいた、小さい黄色の麦藁帽、――しかしその記憶さえも、年毎に色彩は薄れるらしい。
Đứng đó là một người phu đất cao lớn, mặc áo khoác hiệu đã cũ, đội chiếc mũ rơm trái mùa. — Khi bóng dáng ấy vừa lọt vào mắt, Ryōhei cùng hai đứa nhỏ đã bỏ chạy được năm sáu gian rồi. — Từ đó về sau, những lần đi việc vặt về ngang, dù thấy goòng nằm ở công trường vắng người, Ryōhei cũng không bao giờ còn nghĩ đến chuyện leo lên thử nữa. Chỉ có bóng dáng người phu đất lúc ấy là đến giờ vẫn hằn một mảng ký ức rõ rệt đâu đó trong đầu Ryōhei: chiếc mũ rơm nhỏ màu vàng thấp thoáng trong ánh sáng lờ mờ. — Nhưng ngay cả mảng ký ức ấy, hình như mỗi năm màu sắc cũng một phai đi.
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| トロッコ | — | xe goòng (chở đất trên ray) |
| 工事 | こうじ | công trình, thi công |
| 土工 | どこう | phu đất, thợ đào đắp |
| 線路 | せんろ | đường ray |
| 勾配 | こうばい | độ dốc |
| 車輪 | しゃりん | bánh xe |
| 有頂天 | うちょうてん | sướng như bay lên mây |
| 怒鳴る | どなる | quát tháo |
| 記憶 | きおく | ký ức |
その後十日余りたってから、良平は又たった一人、午過ぎの工事場に佇みながら、トロッコの来るのを眺めていた。すると土を積んだトロッコの外に、枕木を積んだトロッコが一輛、これは本線になる筈の、太い線路を登って来た。このトロッコを押しているのは、二人とも若い男だった。良平は彼等を見た時から、何だか親しみ易いような気がした。「この人たちならば叱られない」――彼はそう思いながら、トロッコの側へ駈けて行った。「おじさん。押してやろうか?」
Hơn mười ngày sau, Ryōhei lại một mình đứng ở công trường lúc quá trưa, ngắm những chiếc goòng chạy tới. Bấy giờ, ngoài goòng chở đất còn có một chiếc goòng chở tà vẹt đang leo lên theo tuyến ray to — tuyến sau này sẽ là đường chính. Hai người đẩy chiếc goòng ấy đều là những chàng trai trẻ. Vừa nhìn thấy họ, Ryōhei đã thấy có gì đó dễ gần. “Mấy người này chắc không mắng mình đâu” — nghĩ vậy, cậu chạy lại bên goòng: “Chú ơi, cháu đẩy giúp cho nhé?”
その中の一人、――縞のシャツを着ている男は、俯向きにトロッコを押したまま、思った通り快い返事をした。「おお、押してくよう」良平は二人の間にはいると、力一杯押し始めた。「われは中中力があるな」他の一人、――耳に巻煙草を挟んだ男も、こう良平を褒めてくれた。
Một trong hai người — anh chàng mặc áo sơ mi kẻ sọc — vẫn cúi đầu đẩy goòng, đáp lại vui vẻ đúng như cậu mong: “Ờ, đẩy đi!” Ryōhei chen vào giữa hai người, ra sức đẩy hết mình. “Thằng nhóc khỏe ra phết nhỉ,” người kia — anh chàng giắt điếu thuốc cuốn trên vành tai — cũng khen cậu như thế.
その内に線路の勾配は、だんだん楽になり始めた。「もう押さなくとも好い」――良平は今にも云われるかと内心気がかりでならなかった。が、若い二人の土工は、前よりも腰を起したぎり、黙黙と車を押し続けていた。良平はとうとうこらえ切れずに、怯ず怯ずこんな事を尋ねて見た。「何時までも押していて好い?」「好いとも」二人は同時に返事をした。良平は「優しい人たちだ」と思った。
Chẳng bao lâu, độ dốc của đường ray thoải dần. “Thôi không cần đẩy nữa đâu” — Ryōhei nơm nớp trong bụng, chỉ sợ người ta nói câu ấy bất cứ lúc nào. Nhưng hai người phu trẻ chỉ đứng thẳng lưng hơn trước một chút, vẫn lầm lũi đẩy xe. Cuối cùng Ryōhei không nhịn được nữa, rụt rè đánh bạo hỏi: “Cháu đẩy mãi cũng được ạ?” — “Được chứ!” — hai người đáp cùng một lúc. Ryōhei nghĩ bụng: “Toàn người tốt cả.”
五六町余り押し続けたら、線路はもう一度急勾配になった。其処には両側の蜜柑畑に、黄色い実がいくつも日を受けている。「登り路の方が好い、何時までも押させてくれるから」――良平はそんな事を考えながら、全身でトロッコを押すようにした。
Đẩy thêm hơn năm sáu chō nữa, đường ray lại dốc gắt lên. Hai bên là vườn quýt, những quả vàng ươm hứng nắng lúc lỉu. “Đường lên dốc thích hơn, vì được đẩy mãi” — Ryōhei vừa nghĩ thế vừa lấy cả toàn thân mà đẩy goòng.
蜜柑畑の間を登りつめると、急に線路は下りになった。縞のシャツを着ている男は、良平に「やい、乗れ」と云った。良平は直に飛び乗った。トロッコは三人が乗り移ると同時に、蜜柑畑の匂を煽りながら、ひた辷りに線路を走り出した。「押すよりも乗る方がずっと好い」――良平は羽織に風を孕ませながら、当り前の事を考えた。「行きに押す所が多ければ、帰りに又乗る所が多い」――そうもまた考えたりした。
Leo hết đoạn dốc giữa hai vườn quýt, đường ray đột ngột đổ xuống. Anh chàng áo kẻ sọc bảo Ryōhei: “Ê, lên xe!” Ryōhei nhảy tót lên ngay. Ba người vừa yên chỗ, chiếc goòng vừa cuốn theo mùi thơm vườn quýt, vừa trượt băng băng trên đường ray. “Được ngồi còn sướng gấp mấy lần đẩy” — Ryōhei để gió lùa căng vạt áo khoác, nghĩ một điều hiển nhiên như thế. “Lượt đi đẩy nhiều bao nhiêu thì lượt về được ngồi nhiều bấy nhiêu” — cậu còn nghĩ được cả thế nữa.
竹藪のある所へ来ると、トロッコは静かに走るのを止めた。三人は又前のように、重いトロッコを押し始めた。竹藪は何時か雑木林になった。爪先上りの所所には、赤錆の線路も見えない程、落葉のたまっている場所もあった。その路をやっと登り切ったら、今度は高い崖の向うに、広広と薄ら寒い海が開けた。と同時に良平の頭には、余り遠く来過ぎた事が、急にはっきりと感じられた。
Đến chỗ có rặng tre, chiếc goòng lặng lẽ dừng chạy. Ba người lại bắt đầu đẩy chiếc goòng nặng nề như lúc trước. Rặng tre lúc nào không hay đã đổi thành rừng cây tạp. Có những quãng lên dốc thoai thoải, lá rụng phủ dày đến mức chẳng còn thấy cả đường ray hoen gỉ. Cuối cùng leo hết đoạn đường ấy, thì bên kia vách đá cao, một vùng biển lạnh lẽo mênh mông mở ra. Và cùng lúc đó, trong đầu Ryōhei chợt hiện lên rõ rệt một điều: mình đã đi quá xa mất rồi.
三人は又トロッコへ乗った。車は海を右にしながら、雑木の枝の下を走って行った。しかし良平はさっきのように、面白い気もちにはなれなかった。「もう帰ってくれれば好い」――彼はそうも念じて見た。が、行く所まで行きつかなければ、トロッコも彼等も帰れない事は、勿論彼にもわかり切っていた。
Ba người lại lên goòng. Chiếc xe chạy dưới những tán cây tạp, biển ở phía bên phải. Nhưng Ryōhei không còn thấy vui thích như ban nãy nữa. “Giá mà họ quay về ngay cho” — cậu thầm khấn cả như thế. Nhưng dĩ nhiên cậu cũng thừa hiểu rằng, chưa đi đến nơi cần đến thì cả goòng lẫn hai người phu đều chưa thể quay về.
その次に車の止まったのは、切崩した山を背負っている、藁屋根の茶店の前だった。二人の土工はその店へはいると、乳呑児をおぶった上さんを相手に、悠悠と茶などを飲み始めた。良平は独りいらいらしながら、トロッコのまわりをまわって見た。トロッコには頑丈な車台の板に、跳ねかえった泥が乾いていた。
Lần dừng tiếp theo là trước một quán nước mái rạ, dựa lưng vào quả núi đã bị xẻ dở. Hai người phu vào quán, thong dong ngồi uống trà, chuyện trò với bà chủ đang địu đứa con còn bú. Ryōhei một mình bồn chồn, đi vòng quanh chiếc goòng ngó nghiêng. Trên tấm ván thùng xe chắc nịch, bùn bắn lên đã khô cong.
少時の後茶店を出て来しなに、巻煙草を耳に挟んだ男は、(その時はもう挟んでいなかったが)トロッコの側にいる良平に新聞紙に包んだ駄菓子をくれた。良平は冷淡に「難有う」と云った。が、直に冷淡にしては、相手にすまないと思い直した。彼はその冷淡さを取り繕うように、包み菓子の一つを口へ入れた。菓子には新聞紙にあったらしい、石油の匂がしみついていた。
Lát sau, lúc từ quán bước ra, anh chàng từng giắt thuốc trên tai (bấy giờ điếu thuốc không còn ở đó nữa) đưa cho Ryōhei đang đứng cạnh goòng một gói kẹo rẻ tiền bọc giấy báo. Ryōhei hờ hững đáp “cảm ơn ạ”. Nhưng ngay sau đó cậu nghĩ lại: hờ hững thế thì có lỗi với người ta quá. Như để chữa cho sự hờ hững ấy, cậu bỏ một chiếc kẹo trong gói vào miệng. Chiếc kẹo ám mùi dầu hỏa, chắc là hơi từ tờ giấy báo.
三人はトロッコを押しながら緩い傾斜を登って行った。良平は車に手をかけていても、心は外の事を考えていた。その坂を向うへ下り切ると、又同じような茶店があった。土工たちがその中へはいった後、良平はトロッコに腰をかけながら、帰る事ばかり気にしていた。茶店の前には花のさいた梅に、西日の光が消えかかっている。「もう日が暮れる」――彼はそう考えると、ぼんやり腰かけてもいられなかった。トロッコの車輪を蹴って見たり、一人では動かないのを承知しながらうんうんそれを押して見たり、――そんな事に気もちを紛らせていた。
Ba người lại đẩy goòng leo lên con dốc thoai thoải. Ryōhei tay vẫn vịn xe mà lòng dạ để tận đâu đâu. Xuống hết con dốc bên kia lại có một quán nước y như trước. Trong lúc hai người phu vào quán, Ryōhei ngồi ghé lên goòng, đầu óc chỉ canh cánh mỗi chuyện về nhà. Trước quán, ánh nắng chiều tà đang lụi dần trên cây mơ nở hoa. “Trời sắp tối rồi” — nghĩ đến đó, cậu không tài nào ngồi thẫn thờ được nữa. Cậu đá thử vào bánh goòng, biết thừa một mình chẳng đẩy nổi mà vẫn hì hụi đẩy thử — cứ lấy những trò ấy để khuây khỏa.
ところが土工たちは出て来ると、車の上の枕木に手をかけながら、無造作に彼にこう云った。「われはもう帰んな。おれたちは今日は向う泊りだから」「あんまり帰りが遅くなるとわれの家でも心配するずら」
Nhưng hai người phu bước ra, tay vịn lên đống tà vẹt trên xe, buông một câu tỉnh queo: “Nhóc về đi thôi. Hôm nay bọn tao ngủ lại bên kia.” — “Về muộn quá thì nhà mày cũng lo đấy.”
良平は一瞬間呆気にとられた。もうかれこれ暗くなる事、去年の暮母と岩村まで来たが、今日の途はその三四倍ある事、それを今からたった一人、歩いて帰らなければならない事、――そう云う事が一時にわかったのである。良平は殆ど泣きそうになった。が、泣いても仕方がないと思った。泣いている場合ではないとも思った。彼は若い二人の土工に、取って附けたような御時宜をすると、どんどん線路伝いに走り出した。
Ryōhei sững người mất một thoáng. Trời thì đã sắp tối; cuối năm ngoái cậu từng cùng mẹ đi đến tận Iwamura, nhưng quãng đường hôm nay dài gấp ba bốn lần thế; và quãng đường ấy, giờ đây cậu phải cuốc bộ về một thân một mình — tất cả những điều đó cùng lúc vỡ ra trong đầu cậu. Ryōhei suýt òa khóc. Nhưng cậu nghĩ khóc cũng chẳng ích gì. Cũng chẳng phải lúc để khóc. Cậu khẽ cúi chào hai người phu trẻ lấy lệ, rồi ba chân bốn cẳng chạy men theo đường ray.
良平は少時無我夢中に線路の側を走り続けた。その内に懐の菓子包みが、邪魔になる事に気がついたから、それを路側へ抛り出す次手に、板草履も其処へ脱ぎ捨ててしまった。すると薄い足袋の裏へじかに小石が食いこんだが、足だけは遙かに軽くなった。彼は左に海を感じながら、急な坂路を駈け登った。時時涙がこみ上げて来ると、自然に顔が歪んで来る。――それは無理に我慢しても、鼻だけは絶えずくうくう鳴った。
Ryōhei cắm đầu chạy men đường ray một hồi, quên cả trời đất. Được một lúc thì thấy gói kẹo trong bụng áo vướng víu, cậu ném nó ra vệ đường, tiện thể cởi luôn đôi guốc gỗ vứt đấy. Sỏi đá lập tức xuyên qua lớp tất mỏng ghim vào gan bàn chân, nhưng bù lại chân nhẹ hẳn đi. Cậu chạy ngược con dốc gắt, cảm nhận biển ở phía bên trái. Thỉnh thoảng nước mắt trào lên là mặt cậu tự nhiên méo xệch. — Cố nén cách mấy thì cái mũi vẫn cứ khụt khịt không thôi.
竹藪の側を駈け抜けると、夕焼けのした日金山の空も、もう火照りが消えかかっていた。良平は、愈気が気でなかった。往きと返りと変るせいか、景色の違うのも不安だった。すると今度は着物までも、汗の濡れ通ったのが気になったから、やはり必死に駈け続けたなり、羽織を路側へ脱いで捨てた。
Chạy băng qua rặng tre, thì cả ráng chiều trên đỉnh Higane cũng đã lụi dần. Ryōhei càng lúc càng cuống ruột. Có lẽ vì lượt đi lượt về khác nhau, cảnh vật trông cũng lạ hoắc, càng thêm bất an. Rồi đến chiếc áo dài thấm đẫm mồ hôi cũng làm cậu khó chịu; cậu vẫn liều mạng chạy tiếp, và cởi luôn chiếc áo khoác vứt lại bên vệ đường.
蜜柑畑へ来る頃には、あたりは暗くなる一方だった。「命さえ助かれば――」良平はそう思いながら、辷ってもつまずいても走って行った。やっと遠い夕闇の中に、村外れの工事場が見えた時、良平は一思いに泣きたくなった。しかしその時もべそはかいたが、とうとう泣かずに駈け続けた。
Đến quãng vườn quýt thì trời cứ mỗi lúc một tối sầm. “Chỉ cần giữ được cái mạng—” Ryōhei vừa nghĩ vậy vừa chạy, trượt ngã cũng chạy, vấp cũng chạy. Khi rốt cuộc trông thấy công trường rìa làng hiện ra trong bóng chiều nhá nhem xa xa, Ryōhei chỉ muốn khóc òa một trận cho xong. Nhưng cả lúc ấy, dù mặt đã mếu xệch, cậu vẫn nhất quyết không khóc mà chạy tiếp.
彼の村へはいって見ると、もう両側の家家には、電燈の光がさし合っていた。良平はその電燈の光に、頭から汗の湯気の立つのが、彼自身にもはっきりわかった。井戸端に水を汲んでいる女衆や、畑から帰って来る男衆は、良平が喘ぎ喘ぎ走るのを見ては、「おいどうしたね?」などと声をかけた。が、彼は無言のまま、雑貨屋だの床屋だの、明るい家の前を走り過ぎた。
Vào tới làng, nhà cửa hai bên đường đã sáng ánh đèn điện đan vào nhau. Dưới ánh đèn ấy, chính Ryōhei cũng thấy rõ hơi mồ hôi bốc lên nghi ngút từ đầu mình. Mấy người đàn bà kín nước bên giếng, mấy người đàn ông từ ruộng về, thấy Ryōhei vừa chạy vừa thở hồng hộc thì cất tiếng: “Ơ kìa, sao thế cháu?” Nhưng cậu cứ lặng thinh, chạy vụt qua trước những ngôi nhà sáng đèn — nào hàng tạp hóa, nào hiệu cắt tóc.
彼の家の門口へ駈けこんだ時、良平はとうとう大声に、わっと泣き出さずにはいられなかった。その泣き声は彼の周囲へ、一時に父や母を集まらせた。殊に母は何とか云いながら、良平の体を抱えるようにした。が、良平は手足をもがきながら、啜り上げ啜り上げ泣き続けた。その声が余り激しかったせいか、近所の女衆も三四人、薄暗い門口へ集って来た。父母は勿論その人たちは、口口に彼の泣く訣を尋ねた。しかし彼は何と云われても泣き立てるより外に仕方がなかった。あの遠い路を駈け通して来た、今までの心細さをふり返ると、いくら大声に泣き続けても、足りない気もちに迫られながら、…………
Khi lao được vào cổng nhà mình, Ryōhei rốt cuộc không kìm nổi nữa, “òa” lên khóc thật to. Tiếng khóc ấy lập tức kéo cả cha lẫn mẹ xúm quanh cậu. Nhất là mẹ, vừa nói gì đó vừa ôm chầm lấy người Ryōhei. Nhưng Ryōhei cứ giãy giụa chân tay, nức nở, nức nở khóc mãi. Có lẽ vì tiếng khóc dữ quá, ba bốn người đàn bà hàng xóm cũng kéo đến trước cổng nhập nhoạng tối. Cha mẹ và cả những người ấy tíu tít hỏi vì sao cậu khóc. Nhưng ai nói gì mặc, cậu chẳng biết làm gì hơn ngoài gào khóc. Cứ nghĩ lại nỗi hoang mang tủi cực suốt quãng đường xa vừa chạy về, thì có gào to đến mấy cũng vẫn thấy chưa đủ, chưa vơi…
良平は二十六の年、妻子と一しょに東京へ出て来た。今では或雑誌社の二階に、校正の朱筆を握っている。が、彼はどうかすると、全然何の理由もないのに、その時の彼を思い出す事がある。全然何の理由もないのに?――塵労に疲れた彼の前には今でもやはりその時のように、薄暗い藪や坂のある路が、細細と一すじ断続している。…………
Năm hai mươi sáu tuổi, Ryōhei đưa vợ con lên Tokyo. Giờ đây anh cầm cây bút son sửa bản in trên tầng hai một tòa soạn tạp chí. Nhưng thỉnh thoảng, chẳng vì bất cứ lý do gì, anh lại nhớ đến mình của ngày hôm ấy. Chẳng vì bất cứ lý do gì ư? — Trước mắt con người đã mỏi mòn vì bụi bặm mưu sinh ấy, đến tận bây giờ, vẫn hệt như ngày hôm đó, một con đường mảnh mai đứt nối chạy dài — con đường có những rặng cây tối mờ và những con dốc…
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 枕木 | まくらぎ | tà vẹt (thanh ngang đường ray) |
| 内心 | ないしん | trong bụng, thâm tâm |
| おずおず | — | rụt rè, sợ sệt |
| 呆気にとられる | あっけにとられる | sững người, chết lặng |
| 無我夢中 | むがむちゅう | quên hết trời đất, mải miết |
| 気が気でない | きがきでない | đứng ngồi không yên |
| 喘ぐ | あえぐ | thở hổn hển |
| 啜り上げる | すすりあげる | khóc nức nở, sụt sịt |
| 心細い | こころぼそい | trơ trọi, bất an |
Văn bản lấy từ Aozora Bunko (青空文庫).
底本:「蜘蛛の糸・杜子春」新潮文庫、新潮社。
Bản dịch tiếng Việt và chú thích từ vựng © người biên soạn — phần giá trị gia tăng này thuộc quyền của bạn.
📚 Cả series “Đọc song ngữ Nhật – Việt”: ごん狐 · 手袋を買いに · よだかの星 · どんぐりと山猫 · 蜘蛛の糸 · トロッコ · 注文の多い料理店 · セロ弾きのゴーシュ · 魔術 · 杜子春 · 走れメロス — xếp theo trình độ từ N4 đến N2. Xem danh sách đầy đủ trong chuyên mục Đọc Sách Và Học Hỏi.
Mình cũng đang phát triển app học tiếng Nhật cho người Việt — sẽ giới thiệu trên blog trong thời gian tới.





Gửi phản hồi